Lịch sử Việt Nam

Sách giáo khoa lịch sử Anh quốc nói về chế độ Việt Nam cộng hòa

Đoạn trích bên dưới được dẫn từ sách giáo khoa lịch sử Anh quốc dành cho học sinh chương trình tú tài quốc tế (tương đương dự bị đại học) của Đại học Oxford. Chương trình được Đại học Oxford áp dụng cho học sinh đầu vào trên toàn thế giới.
9

Tình hình ở miền Nam phức tạp hơn (miền Bắc) do sự tồn tại của nhiều lãnh đạo với những chính sách và kế hoạch khác nhau nhằm ngăn chặn sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản, nhưng điểm chung của xã hội dưới sự dẫn dắt của những người này đều là hỗn loạn, tham nhũng và cư xử tàn ác đối với những đối tượng được xếp vào hàng kẻ thù quốc gia.

Ban đầu người Pháp muốn duy trì chính quyền Bảo Đại như một chính phủ bù nhìn thân Pháp, nhưng sau đó Pháp đã rút lui và Bảo Đại thì quá nhu nhược. Lo sợ sự bùng nổ của cộng sản, Mỹ đã đứng ra bảo trợ cho miền Nam Việt Nam. Trong những năm cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 3 tỷ đô để chống lại Việt Minh.

Mỹ cần tìm một lãnh đạo cứng rắn hơn cho chính quyền thân Mỹ mà mình dựng nên và tìm thấy một người phù hợp là Ngô Đình Diệm, một người Công giáo theo chủ nghĩa dân tộc, người đã thể hiện sự phản kháng công khai đối với sự cai trị của người Pháp từ những năm 1930.

Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, Bảo Đại cho mời Diệm về làm thủ tướng năm 1954. Năm 1955, Diệm hất cẳng (nguyên văn là “ousted“) Bảo Đại và thành lập chính phủ mới ở miền nam. Trong một cuộc trưng cầu dân ý được sắp đặt một cách lộ liễu, người dân miền Nam Việt Nam đã bỏ phiếu để thành lập một chính phủ cộng hòa với Diệm là tổng thống. Sự thống trị ngày càng tham nhũng và tàn bạo của Diệm đã dần khơi dậy những mâu thuẫn ở Việt Nam.

Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 được sắp đặt lộ liễu
Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 được sắp đặt lộ liễu

Xem thêm: Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

Một trong những vấn đề đầu tiên mà Diệm cần giải quyết là sự phân chia ruộng đất. Một số nhóm cấp tiến và ôn hòa chủ trương ủng hộ phân chia lại ruộng đất để nông dân có đủ đất cày. Khi đóng chiếm miền Nam năm 1945, Việt Minh đã giúp người dân phân chia lại khoảng 600 nghìn héc ta đất, nhờ đó mà vô số nông dân được sở hữu đất, chấm dứt việc phải đóng tô.

Năm 1955 Diệm bãi bỏ điều này và bắt nông dân phải tiếp tục đóng tô. Năm 1958, nông dân bắt buộc phải mua đất canh tác với thời hạn 6 năm. Chi phí này rất tốn kém và khiến người nông dân trở nên bất mãn bởi họ đã mặc nhiên coi đó là đất của mình.

Những chính sách của Diệm cho thấy thái độ của ông ta đối với chính quyền miền Bắc. Diệm luôn sống trong trạng thái sợ hãi sự chống đối và việc bị ám sát. Ông ta rất tích cực trong việc loại bỏ bất cứ mối đe dọa nào đối với quyền lực của mình. Năm 1956, Diệm từ chối tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Giơ ne vơ với lý do rằng những người dân miền Bắc sẽ bị bắt buộc phải bỏ phiếu cho cộng sản.

Diệm bỏ tù các lãnh đạo đối lập và săn lùng các thành viên Việt Minh còn ở lại miền Nam. Ông ta cũng ưu ái Công giáo hơn tôn giáo chính của đất nước là Phật giáo: chỉ có 10% dân số theo Công giáo và chủ yếu là người miền Bắc di cư vào nam trong cuộc di cư Việt Nam năm 1954. Việc ưu ái lợi ích thiểu số dẫn tới những sự bất mãn ngày càng sâu sắc với sự cai trị của ông ta và sự gia tăng của các nhóm chống đối ở ngay trong lòng miền Nam.

Cuộc di cư Việt Nam năm 1954 chủ yếu là người công giáo
Cuộc di cư Việt Nam năm 1954 chủ yếu là người công giáo

Năm 1957, những người cộng sản miền Nam, hay còn gọi là Việt cộng, đã lợi dụng sự bất mãn của nông dân để tổ chức các nhóm nổi dậy ở nông thôn và ám sát các quan chức chính phủ. Số lượng các cuộc ám sát ngày càng tăng, từ 1.200 năm 1959 tới 4.000 vụ năm 1961. Mặc dù xuất hiện những số liệu này, cùng sự phát triển không ngừng của Việt cộng và lực lượng vũ trang chính trị của nó, sự thành lập của Mặt trận dân tộc giải phóng (thành lập năm 1960 bởi Hồ Chí Minh), Diệm vẫn duy trì kiểm soát ở các thành phố và hầu hết các vùng nông thôn ở miền Nam.

Việc những người nông dân miền Nam bị cách ly khỏi làng của mình và bị dồn vào các nơi được gọi là ấp chiến lược càng khiến cho họ giận giữ. Trong khi chính quyền nói với họ rằng việc này là để bảo vệ người dân khỏi sự cướp bóc của Việt cộng và thổ phỉ, mục đích chính vẫn là để cách ly Việt cộng ra khỏi các căn cứ và ngăn chặn sự tiếp viện từ người dân. Các ấp này được đặt dưới sự giám sát đều đặn của quân đội Việt Nam cộng hòa (ARVN) để ngăn chặn sự xâm nhập của Việt cộng, nhưng chính sách này chỉ càng khiến người nông dân bất mãn hơn và thậm chí không thèm hỗ trợ chính phủ trong việc loại bỏ Việt cộng.

Ngay cả Mỹ cũng bắt đầu cảm thấy báo động bởi những báo cáo về sự tàn bạo của Diệm. Đặc biệt việc đàn áp Phật tử một cách công khai khiến nhiều người Mỹ cảm thấy kinh sợ khi họ lại ủng hộ một nhà lãnh đạo như vậy. Do đó, kế hoạch lật đổ Diệm của một nhóm sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa nhận được sự ủng hộ ngầm từ chính quyền Mỹ là điều hiển nhiên. Tháng 11 năm 1963, Diệm bị ám sát và bị thay thế bởi một nhóm cố vấn không mấy tên tuổi.

Năm 1965, tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống. Nhìn bên ngoài có vẻ Thiệu mang đến sự ổn định nhưng thực chất chính quyền của ông ta cũng tham nhũng và tướng tá của ông ta cũng bất tài chẳng khác gì dưới thời Diệm. Những chính sách của Thiệu chẳng theo một hệ tư tưởng nào, mà chỉ dựa trên những nhu cầu trước mắt để chống lại miền Bắc và Việt cộng, cũng như để duy trì sự ủng hộ mình qua hình ảnh và các mối quan hệ cá nhân hơn là việc loại bỏ tình trạng tham nhũng tồi tệ mà Diệm để lại.

Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Văn Thiệu

Tuy nhiên, dưới thời Thiệu, chính quyền miền Nam đã có những cố gắng trong việc cải cách ruộng đất. Vào năm 1954 có đến 60% nông dân không có đất, hơn 20% nông dân chỉ sở hữu những khoảnh đất nhỏ hơn 2 mẫu Anh (1 mẫu Anh = 4046,86 m2). Hằng năm, những tá điền phải trả khoảng 74% thành quả mà họ thu hoạch được trên mảnh ruộng mà mình canh tác cho địa chủ.

Những năm 1940 và 1950, Việt Minh nhận được sự ủng hộ của nhiều người dân miền Nam nhờ việc phân chia lại ruộng đất triệt để. Việt Minh thực hiện việc này bằng việc bắt giữ các địa chủ và bắt họ nhượng lại đất cho những người nông dân. Việt cộng tiếp tục duy trì những chính sách này và thông qua việc phân chia lại ruộng đất của những địa chủ vắng mặt, họ nhận được sự ủng hộ trung thành của những người nông dân trong việc tổ chức chiến tranh du kích.

Người dịch: Hồ Hải Yến Ngọc

Nhân vật lịch sử

Thái tử Bảo Long: Hoàng tử cuối cùng của triều đại phong kiến Nhà Nguyễn

Thái tử Bảo Long được vua Bảo Đại sắc phong làm thái tử và là là vị hoàng thái tử người cuối cùng của triều đại phong kiến nhà Nguyễn cũng là vị Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ Việt Nam.
11

Thái tử Bảo Long có tên thật là Nguyễn Phúc Bảo Long ( 4 tháng 1 năm 1936 – 28 tháng 7 năm 2007) .Ông là con trai của Hoàng đế Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương. Ông có một em trai là hoàng tử Bảo Thắng, ba cô em gái là Công chúa Phương Mai, Công chúa Phương Liên và Công chúa Phương Dung. Tất cả đều ở Pháp.

Khi Hoàng hậu Nam Phương sinh Hoàng tử Bảo Long, súng thần công đặt trên Kỳ đài nổ 7 tiếng báo hiệu tin vui cho trăm họ. Ngay sau đó người đứng đầu chính quyền Pháp, đứng đầu các nước Đông Dương, các quan lại Nam triều tới tấp gởi điện về Huế chúc mừng. Tất cả trẻ con Việt Nam trên toàn quốc có cùng ngày sinh 4/1/1936 với Bảo Long đều được triều Nguyễn tặng áo quần và sữa.

Hoàng tử Bảo Long lúc nhỏ
Hoàng tử Bảo Long lúc nhỏ.

Năm Bảo Long ra đời cũng là năm khánh thành sân vận động Huế nên cái sân vận động có lòng chảo đua xe đạp đầu tiên ở Đông Dương này được mang tên sân vận động Bảo Long (Về sau đổi lại là sân vận động Tự Do, nay là sân vận động Huế).

Năm thái tử Bảo Long 3 tuổi thì được triều Nguyễn và Phủ Tôn Nhơn phong Hoàng Thái tử (vào ngày 7/3/1939). Hằng năm vào ngày sinh của Hoàng Thái tử, triều đình tổ chức sinh nhật gọi là lễ Thiên Xuân rất long trọng.

Thái tử Bảo Long
Nam Phương hoàng hậu có 5 người con (2 trai và 3 gái) trong đó người con đầu là thái tử Bảo Long.

Bảo Long bắt đầu học với một vị hoàng tộc uyên bác thuộc Phủ Tuy Lý Vương là nhà văn Ưng Quả. Sau ngày vua Bảo Đại thoái vị (30/8/1945) và được mời làm cố vấn cho Chính phủ cách mạng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bảo Long trở thành Hoàng Thái tử và hoàng thái tử người cuối cùng của triều đại phong kiến nhà Nguyễn cũng là vị Hoàng thái tử cuối cùng thời quân chủ Việt Nam. Ông cùng 4 người em theo Hoàng hậu Nam Phương về sống ở Cung điện mùa hè (Cung An Định) và tiếp tục học tại Trường Đồng Khánh với học trò trăm họ.

Vốn học tiếng Pháp và sinh hoạt trong gia đình với cha mẹ cũng nói tiếng Pháp nên sau ngày cách mạng Tháng tám 1945, Bảo Long phải cố gắng lắm mới học được tiếng Việt. Thỉnh thoảng Bảo Long bị các cô giáo Đồng Khánh phạt quỳ quay mặt vào tường. Bảo Long ngoan ngoãn chấp hành. Nhiều hôm đi đón con, Hoàng hậu Nam Phương thấy con bị phạt đau lòng lắm nhưng cũng phải quay mặt đi để cho con thi hành xong giờ phạt. Ngoài giờ học, Bảo Long nhập bọn chơi với học trò bình dân, hát Tiến Quân Ca, tập đánh trận. Nhiều lần Bảo Long đánh nhau với bọn trẻ con Tây.

Năm 1947, Cựu hoàng Bảo Đại rời Chính phủ cách mạng và sống lưu vong ở nước ngoài. Hoàng Thái tử và 4 người em theo Hoàng hậu Nam Phương rời quê hương qua sống ở lâu đài Thorenz tại Cannes thuộc vùng biển nghỉ mát Côte d’Azur (Pháp). Tuy nhà Nguyễn đã cáo chung từ năm 1945, nhưng Cựu hoàng Bảo Đại và Cựu hoàng hậu Nam Phương vẫn gửi Bảo Long đi đào tạo về nhiều lĩnh vực.

Trước tiên Bảo Long học phổ thông ở Trường Roches tại Normandie, tiếp đến học Luật (Droit) và khoa học Chính trị (science politi-que) ở Paris, tiếp đến học sĩ quan tại trường quân sự nổi tiếng thế giới Saint-Cyr (1954) rồi trường Kỵ binh Saumur và ra trường với cấp bậc chuẩn úy (lieutenant) (1956).

Trong suốt những năm học hành, Bảo Long luôn tỏ ra một người thông minh, chăm chỉ, nghiêm túc. Từ sau ngày tốt nghiệp Bảo Long rơi vào khủng hoảng tinh thần trầm trọng. “Quốc trưởng” Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm theo Mỹ bày trò trưng cầu dân ý hạ bệ một cách nhục nhã, tài sản riêng của Bảo Đại (tương lai sẽ là tài sản của Bảo Long) ở Việt Nam và Pháp bị chế độ Ngô Đình Diệm tịch thu. “Quốc trưởng” Bảo Đại trở thành người sống lưu vong trên đất Pháp. Do đó Bảo Long – con của Bảo Đại cũng là một kẻ sống lưu vong. Trong túi của Bảo Long không có bất cứ một giấy tờ nào ngoài tờ Hộ chiếu ngoại giao của một công dân trong khối Liên hiệp Pháp.

Chuẩn úy Bảo Long không được công nhận là một sĩ quan Pháp mà chỉ là một sĩ quan ngoại quốc. Cuộc khủng hoảng tinh thần này đẩy Bảo Long tìm đến cái chết. Bảo Long không tự tử mà lại gia nhập đội quân đánh thuê Lê Dương ( Légion étrangère ), đứng trong hàng ngũ quân đội Pháp chống lại nhân dân Algérie.

Xem thêm: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn

Muốn có cái chết phi lý để xoá đi một hoàn cảnh phi lý, nhưng Bảo Long không chết mà chỉ chuốc lấy những lời phê phán nặng nề của bà con Nguyễn Phúc tộc và đồng bào Việt Nam. Tại sao một ông Hoàng Thái Tử Việt Nam lại đi làm lính đánh thuê (lính Lê Dương) cho Pháp? Không tiện trả lời câu hỏi này nên Bảo Long đã xin giải ngũ về làm nhân viên của một ngân hàng của gia đình bên ngoại. Từ đó ông xa lánh mọi hoạt động chính trị, ngoài giờ làm việc ở ngân hàng ông đắm mình suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc đời.

Thái tử khi về già
Thái tử khi về già (ảnh: Internet).

Bảo Long không lập gia đình. Có thời ông sống chung với Isabel Ébey – một cô gái nạ dòng, đã có hai con, chuyên gia trang trí nội thất. Sau đó Isabel Ébey mất, ông không làm bạn với một người đàn bà nào khác nữa.

Ông không đồng tình việc Cựu hoàng Bảo Đại làm giấy kết hôn với bà Monique Baudot, nên khi Cựu hoàng qua đời (1997), trong tang lễ ông đã bị bà Monique làm khó dễ. Trên nguyên tắc, sau khi Cựu hoàng Bảo Đại qua đời, ông là người thừa kế, nhưng ông không thích chuyện rắc rối nên ông không tranh chấp gì với bà Monique cả.

Đến 49 ngày thọ tang Cựu hoàng (5/10/1997), ông cùng với gia đình Nguyễn Phước tộc tại Pháp tổ chức một đại lễ cầu siêu cho thân phụ – vị Hoàng đế cuối cùng của Việt Nam và tưởng niệm thân mẫu Hoàng hậu Nam Phương tại một ngôi chùa trong rừng Vincennes (Paris). Buổi lễ có đại diện các tôn giáo, các nhân vật chính trị từng làm việc với Cựu hoàng và đặc biệt là đông đủ bà con Nguyễn Phước tộc.

Do không sống với người Việt Nam, nên ông nói tiếng Việt rất khó. Tuy thế ông cũng đã cố gắng đọc Lời tưởng niệm dâng lên cha mẹ bằng tiếng Việt rất xúc động.

Hoàng Thái tử Bảo Long qua đời, không có người thừa kế, người em út của ông là hoàng tử Bảo Thăng (sinh năm 1943) được tiếp nhận tất cả tài sản và những bảo vật của triều Nguyễn do ông làm chủ từ sau ngày thân mẫu ông là Hoàng hậu Nam Phương qua đời (1963) đến nay.

Lễ Sắc Phong Hoàng Thái Tử Bảo Long năm 1939