Nhân vật lịch sử

7 chiến sĩ Hồng quân mang dòng máu Việt trên phòng tuyến Moskva

Ít ai biết rằng, có 7 chiến sĩ Việt Nam đã có mặt trong cuộc duyệt binh lịch sử ngày 7/11/1941 trên Quảng trường Điện Kremlin. Họ tiến thẳng ra mặt trận bảo vệ phòng tuyến Moskva và cùng Hồng quân Xô viết đánh đuổi bọn phát xít Đức cho đến ngày chiến thắng lịch sử 9/5/1945.
51

Một câu nói vô cùng nổi tiếng gắn liền với sự kiện này: “Chúng ta không được chết, cũng không được lùi, vì đằng sau là Moskva.

Cách đây 35 năm, nhân kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng của nhân dân Liên xô chống chủ nghĩa phát xít Đức 1941-1945, Đài Phát thanh Moskva – Ban Tiếng Việt phát động cuộc thi tìm hiểu về Hồng quân Xô viết… Ông Phan Xuân Thành – cán bộ Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh, hội viên Chi hội Hữu nghị Việt – Xô đã gửi bài: “Vương Thúc Tình – Chiến sĩ cách mạng Việt Nam tham gia chiến đấu bảo vệ thành phố Matxcova – Mùa Đông 1941”. Bài dự thi này làm rung động Đài Phát thanh Moskva và các báo chí Liên xô lúc bấy giờ!

Cuộc duyệt binh huyền thoại trên Quảng trường Đỏ ngày 7/11/1941
Cuộc duyệt binh huyền thoại trên Quảng trường Đỏ ngày 7/11/1941

Ngay sau đó, nhờ sự vào cuộc của Đài Phát thanh Moskva, Hội Hữu nghị Liên Xô – Việt Nam, các nhà sử học Nga và Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh đã tìm thêm tên tuổi của 4 chiến sĩ quốc tế Việt Nam tham gia chiến đấu trên tuyến phòng thủ Thủ đô Moskva mùa Đông năm 1941.

Ngày 12/12/1986, Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô đã có quyết định tặng thưởng Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất, Kỷ niệm chương chiến thắng phát xít Đức cho 5 chiến sỹ Việt Nam: Vương Thúc TìnhLý Nam ThanhLý Thúc ChấtLý Anh Tạo và Lý Phú San.

Sắc lệnh của Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô về việc tặng thưởng Huân chương Chiến tranh hạng Nhất cho các chiến sỹ quốc tế Việt Nam.
Sắc lệnh của Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô về việc tặng thưởng Huân chương Chiến tranh hạng Nhất cho các chiến sỹ quốc tế Việt Nam.

Trong số 5 người được tặng huân chương, kỷ niệm chương và truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công, có ông Lý Phú San, tên thật là Lê Phan Chân, quê ở Hà Sơn Bình (nay thuộc xã Tân Ước, huyện Thanh Oai , Hà Đông, TP. Hà Nội), đã phục vụ trong một quân y viện của một đơn vị Hồng quân Liên Xô vùng ngoại ô Moskva. Ông về nước sau năm 1955, mất năm 1980 tại Hà Nội, thọ 80 tuổi.

4 người còn lại thuộc Trung đoàn quốc tế OMCBON, quê ở Nghệ An, trong đó có 3 người được tổ chức truy điệu, tặng Bằng Tổ quốc ghi công, Huân chương Chiến tranh vệ quốc hạng Nhất và Kỷ niệm chương vào ngày 27/7/1987 tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn. Đó là các ông: Lý Nam Thanh, tên thật là Nguyễn Sinh Thản, sinh năm 1908 tại Làng Sen; Lý Thúc Chất, tên thật là Vương Thúc Thoại, sinh năm 1910 tại Làng Sen; Lý Anh Tạo, tên thật là Hoàng Thế Tự, sinh năm 1910 tại làng Hoàng Trù, tất cả đều ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn.

Báo Nghệ Tĩnh số 1155 ra ngày 31/7/1987 đưa tin lễ truy điệu 3 liệt sỹ Nghệ An hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Matxcova năm 1941
Báo Nghệ Tĩnh số 1155 ra ngày 31/7/1987 đưa tin lễ truy điệu 3 liệt sỹ Nghệ An hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Matxcova năm 1941

Qua nhiều cuộc tọa đàm và trao đổi, gặp gỡ và dựa trên những cứ liệu lịch sử khoa học, các nhân chứng lịch sử, cuối cùng đã xác định được Vương Thúc Tình (còn có bí danh là Vương Sĩ), tên thật là Vương Thúc Liễn, sinh năm 1903, trong một gia đình nhà nho yêu nước tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn. Cha ông là Vương Thúc Độ, mẹ là Hoàng Thị Đàm. Bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Bác Hồ với bà Hoàng Thị Đàm là chị em con bác, con chú.

Vương Thúc Liễn xuất dương sang Thái Lan cùng với Lê Hồng Phong, Lý Thúc Chất, Lý Nam Thanh, Lý Anh Tạo… Năm 1925, ông sang Trung Quốc được Bác Hồ đặt tên là Vương Sĩ và gửi vào học Trường Quân sự Hoàng Phố. Ông cũng được Bác Hồ gửi sang Liên Xô đào tạo và trở thành người chiến sỹ trong Trung đoàn quốc tế bộ binh cơ giới đặc biệt (OMCBON) trên tuyến phòng thủ thành phố Moskva.

Sau khi quân Đức bị đẩy lùi khỏi phòng tuyến Moskva, Hồng quân Liên Xô đã giành lại thế chủ động tiến công địch trên khắp các mặt trận và bắt đầu phản công bọn phát xít. Đầu Xuân năm 1943, giữa lúc Hồng quân đang tiến mạnh về phía Tây thì có lệnh của lãnh đạo Stalin: “Điều tất cả các cán bộ người phương Đông kể cả những người quê châu Á quay trở lại chuẩn bị chống Nhật ở mặt trận phía Đông”. Vương Thúc Tình đã trở về Việt Nam theo tinh thần trên, nhưng không may khi đi qua Nam Kinh (Trung Quốc) bị bọn Nguyễn Hải Thần mật báo cho đặc vụ Tưởng Giới Thạch bắt và giết hại!

Trong khi tìm kiếm các tư liệu về nhân vật Vương Thúc Tình, tổ nghiên cứu tìm kiếm đã phát hiện tình tiết mới. Theo hồi ký của ông Ivan Ivarốp (người Bungari) – Chỉ huy trưởng Trung đoàn quốc tế OMCBON: “Trong số những người chống phát xít quê ở Đức, Tây Ban Nha, Bungari… biên chế vào các bộ phận của Trung đoàn còn có 6 người Việt Nam”.

Chúng ta đã tìm được 5 người. Vậy còn những người nữa là ai?

Trong các cuộc Hội thảo khoa học: “Những học trò của Bác Hồ đã sống, chiến đấu, học tập ở Liên Xô trước năm 1945” ngày 19/5/1988, Hội Hữu nghị Việt – Xô Nghệ Tĩnh tổ chức đã nêu ra 2 cái tên mới: Đó là Lý Văn Minh và Lý Chí Thống. Đây là 2 người cùng trong nhóm 8 thanh, thiếu niên do Bác Hồ tổ chức, giáo dục để chuẩn bị gửi sang Liên Xô theo Thư gửi của Ủy ban thiếu niên, nhi đồng Liên Xô tháng 7 năm 1926.

Tên tuổi 8 người này được cụ Vương Thúc Oánh – Lão thành cách mạng xác nhận và cung cấp tư liệu cho Ban Lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ An khi cụ còn sống (Cụ Oánh mất năm 1962). Tên tuổi 8 người này đúng như tư liệu của nhà sử học Nga A. Côbêlev viết trong tác phẩm “Chủ tịch Hồ Chí Minh” xuất bản năm 1980 tại Nga.

Theo hồi ký của Thiếu tướng Lê Thiết Hùng: “Năm 1938, Bác Hồ từ Liên Xô trở về Trung Quốc bắt liên lạc với họ trong các đơn vị giải phóng quân Trung Quốc và gửi họ sang Liên Xô đào tạo. Khi phát xít Đức tấn công Liên Xô họ đã tham gia chiến đấu bảo vệ Matxcova”.

Bởi vậy, chúng ta có cơ sở để kết luận thêm tên tuổi của 2 chiến sỹ trong Trung đoàn quốc tế do Ivan Ivarốp chỉ huy đó là:

Ông Lý Văn Minh, tên thật là Đinh Chương Long, sinh năm 1912, quê xã Hải Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Cha là Đinh Chương Dương(1885 – 1972) – một nhân sĩ trí thức cách mạng nổi tiếng. Còn ông Lý Chí Thống, tên thật là Ngô Trí Thông, sinh năm 1910, quê ở xã Đại Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Cha ông là Ngô Trí Tuấn, một Việt kiều yêu nước. Gia đình ông cùng sang Bản Mạy, tỉnh Thakhon Pha nom (Thái Lan) với gia đình ông Lê Hữu Đạt (Bố của anh hùng liệt sĩ Lý Tử Trọng).

Ông Đinh Chương Long (Lý Văn Minh) - Một trong những chiến sỹ Việt Nam chiến đấu trong lực lượng Hồng quân Liên Xô
Ông Đinh Chương Long (Lý Văn Minh) – Một trong những chiến sỹ Việt Nam chiến đấu trong lực lượng Hồng quân Liên Xô

Như vậy, chúng ta có đến 7 chiến sỹ cách mạng Việt Nam tham gia cuộc chiến tranh vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức trong những năm 1941 – 1945, đó là: Vương Thúc TìnhLý Nam ThanhLý Thúc ChấtLý Anh TạoLý Phú SanLý Văn Minh và Lý Chí Thống.

———————-

Bài viết được chọn lọc và tổng hợp bởi Lê Tiến Nguyên từ lichsuvietnam, baonghean, bbc.

Lịch sử thế giới

“ĐM chúng mày, cút khỏi đất nước tao ngay” và những “tảng đá biết đi, bụi cây biết nói”

Nếu có tiếng hô: "ĐM chúng mày, cút khỏi đất nước tao ngay", kèm theo là lưỡi lê AK 47 găm vào người bạn thì đó là những "tảng đá biết đi, bụi cây biết nói tiếng Việt".
122

“ĐM chúng mày, cút khỏi đất nước tao ngay” và những “tảng đá biết đi, bụi cây biết nói”

Tuy vui mà thật, đó là câu chuyện về lời kể của một cựu binh Mỹ, rằng:

Kinh nghiệm cho thấy, nếu gặp một hào dã chiến không rõ danh tính hãy bắn chỉ thiên một phát. Nếu có một loạt đạn súng máy như mưa đáp lại thì đó là người Đức. Nếu có vũ khí quăng ra và có tiếng hô đầu hàng, đó là người Ý. Nếu có một tràng hỏa lực súng trường nhanh và chuẩn xác bắn trả, đó là người Anh.

Nếu không có gì xảy ra trong 5 phút, và sau đó vị trí của bạn bị xới tung bởi pháo binh hoặc một cuộc không kích, đó là người Mỹ. Và nếu bạn bị một lượng đông đảo và hung hãn gồm những gã đàn ông không sợ chết xông lên và hét cyka blyat (ĐM mẹ chúng mày), thì đó là người Nga.

Còn nếu bạn không nhận thấy hồi đáp gì từ hào dã chiến. Vậy thì xin chúc mừng bạn! Ngay sau đó bạn sẽ nghe thấy tiếng hô “ĐM chúng mày, cút khỏi đất nước tao ngay”, kèm theo là lưỡi lê AK 47 găm vào người bạn. Đó chính là những “tảng đá biết đi, bụi cây biết nói tiếng Việt” đấy.”

ĐM chúng mày, cút khỏi đất nước tao ngay!
“ĐM chúng mày, cút khỏi đất nước tao ngay!”

Nguồn gốc của “ĐM chúng mày”

Nhưng có lẽ ít người được biết rằng, xuất xứ của tiếng chửi thề ấy xuất xứ từ những người lính Hồng quân khi xưa. Hoặc giả là có một sự tương đồng, những tiếng thét phẫn nộ khi những con người chiến đấu vì Tổ quốc chống lại kẻ thù xâm lược, nó đều là “ĐM chúng mày“.

Kể các bạn nghe, ngày 22/6/1941, phát xít Đức bất ngờ phát động chiến dịch Barbarossa, dồn toàn lực tấn công Liên Xô ở phía đông. Hơn 3 triệu quân Đức đồng loạt tiến vào lãnh thổ Liên Xô từ 3 hướng, đổ vào một mặt trận kéo dài hàng ngàn km. Đây được coi là chiến dịch đẫm máu nhất lịch sử nhân loại.

4h00 phút sáng 22/6/1941, gần 9.000 chiến sĩ Xô Viết ở đây đã phải đương đầu với sự tấn công bất ngờ, được sự yểm trợ tối đa của hỏa lực của 17.000 quân Đức. Đó cũng là thời điểm mở đầu cho Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô (1941-1945), cuộc chiến đã lấy đi sinh mạng gần 30 triệu nguời dân của đất nước này.

Dòng chữ nguệch ngoạc có thể khắc bằng lưỡi lê trước giờ ngã xuống: Tôi sẽ chết nhưng không đầu hàng. Vĩnh biệt Tổ quốc.. Thời khắc đó là ngày 20/7/1941, sau gần 1 tháng cầm cự trong pháo đài. Còn nữa, những dòng chữ khác, có thể là ghi bằng máu: “Chúng tôi sẽ chết, nhưng không rời bỏ pháo đài“, “Chúng tôi chỉ có 5 người, sẽ hy sinh vì Stalin“…

Anh dũng là vậy, nhưng do bị bất ngờ do không lường trước được tình hình, Liên Xô liên tiếp bại trận. Các mặt trận vỡ từng mảng lớn. Chỉ một tháng sau khi xảy ra chiến tranh, đại tướng Dmiri Pavlov, chỉ huy mặt trận phía Tây và một số tướng lĩnh đã bị xử bắn vì đã không hoàn thành nhiệm vụ.

Cuối tháng 9/1941, quân Đức đã đã bao vây phía Bắc Leningrad và tiến đến vùng ngoại ô Moskva. Người Đức đã chiếm được 500.000 dặm vuông lãnh thổ Liên Xô với số dân hơn 75 triệu người.

Hitler và Đức Quốc Xã cứ ngỡ rằng bọn chúng sẽ có được chiến thắng dễ dàng. Nhưng không, giữa tháng 9, tướng Zhukov được giao chỉ huy tập đoàn quân Leningrad. Toàn bộ Liên Xô đã “Quyết tử để bảo vệ Tổ quốc vĩ đại“.

Rốt cục, phát xít Đức bị sa lầy ở Nga, đặc biệt là chiến dịch Stalingrad – thành phố mang tên lãnh tụ Liên Xô bấy giờ. Giao tranh giữa mùa đông ở Stalingrad diễn ra hết sức khốc liệt, hai bên giành giật từng căn nhà, từ mét vuông lãnh thổ. Giao tranh khốc liệt khiến con số người bỏ mạng mỗi tuần ở cả hai bên lên tới hàng chục ngàn người.

Cuộc tổng phản công bảo vệ thủ đô Moskva được bắt đầu vào tháng 12/1941. Có một câu nói nổi tiếng trong thời kỳ này “Nước Nga vĩ đại, nhưng không thể lùi đâu được nữa. Phía sau là Moskva“. Đến tháng 1/1942, quân Đức đã bị đánh bật ra khỏi thủ đô từ 150-300 km.

Cuối cùng, Hồng quân Liên Xô đã chiến thắng. Nhiều người nói rằng, Đức Quốc Xã thua bởi mùa đông khắc nghiệt ở Stalingrad, nhưng đó là nhận định sai lầm.

Mùa đông khắc nghiệt chỉ góp phần nhỏ vào chiến thắng của Hồng quân Xô Viết, yếu tố cốt lõi đó chính là Tinh thần dân tộc của người Liên Xô, với Stalin – biểu tượng tinh thần và sự chỉ huy sáng suốt của tướng Zhukov, mà sau này ông đã được Stalin phong hàm Nguyên soái, là người đầu tiên được phong Nguyên soái trong chiến tranh.

Các sử gia hiện đại sau này đều cho rằng trận Stalingrad chính là bước ngoặt thay đổi cục diện chiến tranh Xô – Đức mà tướng Zhukov chính là người đóng vai trò quan trọng nhất. Tuy nhiên, Nguyên soái Zhukov đã nói rằng lãnh tụ Stalin mới chính là người đóng góp vai trò lớn nhất trong chiến thắng năm ấy.

Từ trận Stalingrad, các tướng lĩnh Liên Xô mỗi khi dẫn quân lính xông lên tấn công đều hô vang: Vì Tổ quốc, vì Stalin vĩ đại. Mà sau đó, Nguyên soái Yazov đã tâm sự, rằng: “Tổ quốc và Stalin là hai khái niệm không thể tách rời đối với những người lính chúng tôi ngoài mặt trận.”

Tức là về mặt tinh thần, lãnh tụ Stalin vẫn luôn hành quân cùng những người lính Xô Viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Sau này, để bôi nhọ Stalin, truyền thông Mỹ và phương Tây nói rằng đó là “sùng bái lãnh tụ“, chúng còn nói rằng đó là “đặc sản của Cộng sản“, là biểu hiện của những người bị tẩy não.

Đám người ngu dốt ấy đâu hiểu được sức mạnh của thứ gọi là tinh thần và lý tưởng. Những con người sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ Tổ quốc.

Có một chi tiết thú vị, đó chính là trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, các chiến sĩ Hồng quân ở các mặt trận Brest, Stalingrad… đã chủ động xông lên dùng lê, dao găm, xẻng quân dựng đánh giáp lá cà với quân Đức, bởi những nơi đó pháo binh, máy bay và xe tăng nhiều khi không giải quyết được bất cứ điều gì, hoặc là việc sử dụng chúng có thể gây ra tổn thất cho chính các chiến sĩ Hồng quân. 

Dưới giao thông hào, khi nghe chỉ huy hô “Vì Tổ quốc! Vì Stalin“, các chiến sĩ đồng loạt hô “Ura” và ào ạt xông lên vào trận chiến sinh tử với kẻ thù. Vào trận chiến đẫm máu đúng nghĩa.

Lời hô khi xung trận “Ura” là phổ biến, nhưng theo nhiều văn bản và lời kể lại, tại rất nhiều cuộc chiến đấu, các chiến sĩ Hồng quân đã hô to Cyka Blyat (ĐM chúng mày! – nghĩa tiếng Việt) và dũng mãnh vào trận chiến đấu. Sở dĩ người ta không đưa nó vào văn bản chính thức là bởi sự thô tục của tiếng chửi thề khi Hồng quân xung trận.

ĐM chúng mày
Cyka Blyat (ĐM chúng mày)

Tượng đài Mẹ Tổ quốc

Tượng đài Mẹ Tổ quốc là một trong những tượng đài cao nhất thế giới mà Liên Xô đã xây dựng để khắc ghi cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của họ. Và nhà điêu khác Vuchevich sinh năm 1908, đã từng tham gia chiến đấu trong Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chính là tổng công trình sư của tượng đài kỳ vĩ ấy.

Tượng đài Mẹ Tổ quốc của ông đúng là một kiệt tác nghệ thuật. Nhưng lần nọ, khi viện sĩ Andrey Sakharov ngồi trò chuyện với Vuchetich về tượng đài này, Vuchetich kể: “Các vị cấp trên hay hỏi tôi tại sao lại tạc khuôn mặt người phụ nữ (Mẹ Tổ quốc) há mồm, không đẹp“, tôi đã trả lời “Đó là vì Người đang thét lên: Vì Tổ quốc! ĐM chúng mày!“. 

Đó chính là tiếng hô xung trận quyết tử của các chiến sĩ Hồng quân, để lao vào trận chiến cuối cùng với kẻ thù. Trận chiến cuối cùng, như lời một bài hát, đó là trận chiến khó khăn nhất…

Последний бой – он трудный самый.

А я в Россию, домой, хочу, 

Я так давно не видел маму.

А я в Россию, домой, хочу,

Я так давно не видел маму

Tạm dịch:

Trận chiến cuối cùng – đó là trận chiến khó khăn nhất

Tôi muốn về nhà, về nước Nga xiết bao

Đã lâu rồi tôi không gặp Mẹ

Tôi muốn về nhà, về nước Nga xiết bao

Đã lâu rồi, tôi không gặp Mẹ

Đế quốc có thể chiến thắng một đội quân, chứ không thể chiến thắng được một dân tộc. Những con người sẵn sàng hi sinh tất cả để bảo vệ Tổ quốc!

Gió Đông Lào

————————–

Bài viết tham khảo tư liệu từ Phan Việt Hùng

Lịch sử thế giới

Sự cố Tây An 1936: Bước ngoặt của lịch sử Trung Quốc hiện đại

Sự cố Tây An gây chấn động thế giới lúc bấy giờ là cuộc binh biến bắt giữ Tưởng Giới Thạch tại Tây An do Trương Học Lương và Dương Hổ Thành thực hiện, nhằm gây áp lực buộc Tưởng hợp tác với Đảng Cộng sản chống Đế quốc Nhật Bản vào ngày 12 tháng 12 năm 1936, khi Tưởng đến Tây An.
52

Năm 1932, việc thành lập nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc ở đông bắc Trung Quốc và Trận chiến ở Thượng Hải đã phản ánh rõ ràng ý định của Nhật Bản muốn xâm lược Trung Quốc. Bất chấp những dấu hiệu gây hấn này, nhà lãnh đạo Trung Quốc theo chủ nghĩa dân tộc Tưởng Giới Thạch vẫn tiếp tục tập trung phần lớn sức lực của mình vào việc thống nhất Trung Quốc. Đặc biệt tiêu diệt tận gốc ảnh hưởng của Cộng sản vốn chỉ còn ít tàn quân sau 5 chiến dịch hợp vây, trước khi ông có cơ hội chống lại người Nhật.

Ban lãnh đạo Cộng sản, đứng đầu là Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông và những người khác, cũng có chung suy nghĩ. Họ không quan tâm nhiều đến những bước tiến của Nhật Bản, vì mỗi chiến thắng của Nhật Bản lại làm suy yếu lực lượng Quốc dân đảng thêm một chút, do đó giúp cho Cộng sản có thêm lợi thế.

Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai
Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai.

Vào thời điểm này, những người Cộng sản, bị coi không khác gì một lực lượng cướp, đang bị bao vây trong một khu vực hoang vắng ở Trung Quốc, sống sót chỉ vì Liên Xô (USSR) hỗ trợ đồng thời  bắt giữ con trai của Tưởng làm con tin ở thủ đô của Nga. Matxcơva, đã  ảnh hưởng nhằm ngăn quân Tưởng tung ra bất kỳ cuộc tấn công quyết định nào.

Nhà lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin có mục tiêu lâu dài là thành lập một chế độ bù nhìn ở Trung Quốc, nhưng trước mắt, ông ta ủng hộ phe Quốc dân vì quân của Tưởng là lực lượng duy nhất có cơ hội chống lại Nhật Bản. Nếu phe Quốc gia thất bại, Stalin lo sợ rằng Nhật Bản sẽ có thể dành toàn bộ bộ máy quân sự của mình trong một chiến dịch chống lại tham vọng của Nga ở châu Á.

Trương Học Lương,  một cựu lãnh chúa Trung Quốc có ảnh hưởng ở vùng đông bắc Trung Quốc và hiện là tướng trong Quân đội Trung Hoa Quốc dân Đảng, là người ủng hộ mặt trận Quốc dân-Cộng sản thống nhất chống lại sự xâm lược của Nhật Bản. Vì khuynh hướng này, ông đã bí mật tiếp xúc với những người Cộng sản bất chấp mối quan hệ với quân đội Quốc gia. Vào giữa năm 1936, ông ta tiếp cận giới lãnh đạo Cộng sản và đề xuất ý tưởng bắt cóc Tưởng  để buộc những người Quốc dân đảng tham gia thảo luận với Cộng sản. 

Mao hơn ai hết muốn nhìn thấy Tưởng bị giết để đạt được tham vọng cá nhân của mình, đã nói với Trương Học Lương để tiếp tục kế hoạch của mình, rằng Liên Xô cũng sẽ ủng hộ kế hoạch của ông, điều này thực tế là dối trá.

Vào ngày 22 tháng 10 năm 1936, tại Tây An, Trung Quốc, Tưởng công bố kế hoạch mới của mình để trấn áp những người Cộng sản. Trương và Trương Hổ Thành, một vị tướng cùng chí hướng, đã công khai phản đối chính sách mới, và trong tháng sau đó đã cố gắng thuyết phục Tưởng thay đổi ý định. Vào đầu tháng 12, họ quyết định rằng thời gian thảo luận đã kết thúc, và bây giờ là lúc thực hiện kế hoạch bắt cóc. Vào sáng sớm ngày 12 tháng 12, Cận vệ của Trương  đã mật kích vào nơi ở của Tưởng ở Tây An, nơi được canh phòng tương đối cẩn thận. Trong cuộc đối đầu ngắn ngủi, cháu trai và vệ sĩ của Tưởng là Jiang Xiaoxian đã bị giết ngay tại hiện trường, và Bộ trưởng Tuyên truyền Shao Yuanchong bị thương dẫn đến cái chết vài ngày sau đó. 

Một số đối thủ của Tưởng bắt đầu kêu gọi xử tử Tưởng vì những thất bại của ông trong việc đối phó với quân Nhật. Tưởng đã trốn vào khu rừng gần đó, chỉ mặc bộ quần áo ngủ vì vừa thức dậy khi kế hoạch được thực hiện, nhưng cuối cùng đã bị phát hiện và bắt giữ.

Vài giờ sau vụ bắt cóc, Trương đã công bố danh sách 8 yêu cầu đối với các nhà lãnh đạo chính trị Trung Quốc ở Trung Quốc và nước ngoài:

– Thành lập một chính phủ liên hiệp bao gồm cả các thành viên Quốc gia và Cộng sản

– Chấm dứt mọi cuộc giao tranh giữa các lực lượng Quốc gia và Cộng sản

– Trả tự do cho tất cả các chính trị gia đang bị giam giữ ở Thượng Hải

– Trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị

– Cho phép các cuộc biểu tình chống Nhật

– Đảm bảo quyền tự do chính trị cho mọi công dân Trung Quốc

– Chính quyền Trung Quốc tái tổ chức như thời Tôn Dật Tiên. 

– Tập hợp ngay lãnh đạo hai bên để bàn cách đối phó với sự xâm lược của Nhật

Ban lãnh đạo Đảng Quốc dân đảng đã bị chia rẽ, trong khi các phe phái cực đoan hơn trong Quốc dân đảng, cụ thể là Hội Áo xanh và phái Hoàng Phố, chuẩn bị quân đội tấn công Tây An để giải cứu Tưởng, một số người khác bắt đầu thảo luận về khả năng xử tử Tưởng vì không đối phó được với quân Nhật. Mặt khác, vợ của Tưởng, Tống Mỹ Linh, đã đích thân cử cố vấn người Úc, người trước đây đã làm việc dưới quyền Trương làm đại diện cá nhân cho các cuộc đàm phán vào ngày 14 tháng 12.

Những người cộng sản cũng bị chia rẽ. Trong khi Mao công khai kêu gọi hành quyết Tưởng, thì Chu Ân Lai và Trương Vệ Kiện nghĩ rằng danh tiếng của Tưởng sẽ bị tổn hại sau vụ việc này và ủng hộ kế hoạch thảo luận của Trương Xương Tiên (do đó cho phép một Tưởng đã suy yếu về chính trị vẫn là lãnh đạo Quốc dân đảng, ngăn cản một nhân vật có tiềm năng mạnh hơn bước lên).

Khi những người Cộng sản đang tranh luận trong nội bộ, Stalin gửi công văn can thiệp, ra lệnh cho Đảng Cộng sản Trung Quốc ngừng yêu cầu xử tử Tưởng và bắt đầu đàm phán. Hồng quân  TQ phụ thuộc vào Liên Xô nhanh chóng thừa nhận các yêu cầu của Liên Xô. Một phái đoàn Cộng sản đã được cử đi vào ngày 17 tháng 12.

Vào ngày 22 tháng 12, Mỹ Linh và anh trai đã đến Tây An để tham gia đàm phán.

Vào ngày 24 tháng 12, Trương đã cố gắng thiết lập một thỏa thuận tế nhị giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản. Hai bên nhất trí đoàn kết trong cuộc chiến chống Nhật và đồng ý rằng Tưởng và các nhà lãnh đạo Quốc dân đảng khác đang bị bắt phải được trả tự do. 

Tưởng Giới Thạch và các thành viên cao cấp của Quốc dân đảng sau Sự cố Tây An
Tưởng Giới Thạch và các thành viên cao cấp của Quốc dân đảng sau Sự cố Tây An. Ảnh wikipedia.

Theo tiết lộ trong nhật ký của Tưởng, Tưởng nghĩ sự kiện này là giai đoạn nhục nhã nhất trong cuộc đời mình. Mặc dù ông có ít ảnh hưởng trong các cuộc đàm phán, nhưng phần lớn ông đã đồng ý ký vào các thỏa thuận, ngừng mọi hoạt động đàn áp chống lại những người Cộng sản cho đến khi Chiến tranh Trung – Nhật lần thứ hai kết thúc vào năm 1945. Tuy nhiên, trong suốt cuộc chiến, Tưởng vẫn làm suy yếu các nỗ lực của Cộng sản bất cứ khi nào có cơ hội; Hồng quân cũng làm như vậy trong cuộc chiến tranh chống Nhật.

Vào ngày 25 tháng 12, Trương đích thân hộ tống Tưởng trở về thủ đô Nam Kinh, nơi có rất đông người tụ tập để chào đón ông. Khi đến Nam Kinh, Trương bị bắt và bị xét xử vì tội phản quốc; trước sự khăng khăng của Tưởng, Trương đã bị xét xử tại một tòa án quân sự chứ không phải là một tòa án dân sự, điều này trên thực tế đảm bảo rằng Trương sẽ bị kết tội. Tuy nhiên, ngay sau phiên tòa, Tưởng đã ân xá cho Trương nhưng Tưởng sẽ quản thúc Trương vô thời hạn. Trương  bị quản thúc tại gia cho đến năm 1990 và qua đời vào năm 2001 mà không tiết lộ thêm bất kỳ chi tiết nào về động cơ đằng sau Sự cố Tây An, do đó đã nảy sinh một số thuyết âm mưu. Trong khi Trương bị quản thúc tại gia, Trương Hổ Thành bị đưa vào nhà tù. Khi những người Quốc dân Đảng đang đứng trước bờ vực thất bại trong cuộc nội chiến trước những người cộng sản Trương cuối cùng bị hành quyết theo lệnh của Tưởng Giới Thạch vào năm 1949, trước khi Quốc dân đảng rút về Đài Loan.

Trong lịch sử Trung Quốc hiện đại, sự cố Tây An thường được cho là có ba hậu quả chính. Về mặt ngắn hạn, liên minh Quốc Cộng miễn cưỡng đã cho người Trung Quốc một nền tảng vững chắc hơn, ít nhất là trên lý thuyết, để chống lại sự xâm lược của Nhật Bản vốn sẽ sớm leo thang trong vòng vài tháng. Hệ quả thứ hai là Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho đến thời điểm này vẫn chỉ là một nhóm cướp, giờ đây đã được công nhận là một đảng chính trị đối lập hợp pháp, sẽ sớm được chính phủ Quốc dân đảng trao một phần lãnh thổ. Cuối cùng, sự cố Tây An đã cho những người Cộng sản thời gian và cơ hội để xây dựng sức mạnh của họ thành lực lượng mà một ngày nào đó sẽ thách thức những người Quốc dân Đảng trong một cuộc chiến toàn diện.

Huỳnh Nam Việt