Lịch sử Việt Nam

Đảng Đại Việt, CIA và cuộc chiến bí mật ở miền Bắc Việt Nam

Đây là "chương I: Con ngựa thành Troia" trong cuốn sách "Spies and Commandos: How America Lost the Secret War in North Vietnam" nói về về hoạt động của tình báo Mỹ đối với Miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 đến 1964. Mời các bạn cùng tìm hiểu.
211

Cuộc chiến tranh diễn ra không thuận lợi đối với nước Pháp. Vào đầu năm 1952, những người cộng sản Việt Nam (Việt Minh) đã làm chủ phần lớn vùng núi phía Bắc, giáp biên giới với Trung Quốc, giúp họ có khả năng dễ dàng tấn công xuống vựa lúa ở Bắc Việt Nam, khu vực châu thổ sông Hồng phì nhiêu.

Tâm lý vỡ mộng đang tăng lên trong nước làm Pháp càng khó khăn hơn. Hy vọng giành một chiến thắng nhanh chóng, các lực lượng của Pháp đã hành quân, tiến vào các vị trí xung quanh Hòa Bình, một tỉnh lỵ nằm ở phía Tây Hà Nội, nhằm cắt đứt con đường tiếp tế then chốt của Việt Minh, đi từ phía Đông về vùng đồng bằng

Việt Minh đã đáp trả lại bằng việc tập trung ba sư đoàn bộ binh, với tổng cộng khoảng 25 nghìn quân. Bị bất ngờ và áp đảo, quân Pháp bắt đầu từ từ rút lui về các khu vực an toàn ở châu thổ sông Hồng, cho nổ tung, phá hủy bất cứ thứ gì có thể sử dụng được như là một cử chỉ tạm biệt. Vào tuần thứ hai của tháng ba, Hòa Bình đã bị bỏ rơi.

Báo cáo của CIA ngày 13/10/1950 cảnh báo về những hậu quả đối với nước Mỹ nếu Đông Nam Á “rơi vào tay cộng sản”
Báo cáo của CIA ngày 13/10/1950 cảnh báo về những hậu quả đối với nước Mỹ nếu Đông Nam Á “rơi vào tay cộng sản”

Trong khi đó, bên kia trái đất ở Washington, chính quyền Tổng thống Truman lo lắng trước việc vị thế của Pháp ở Đông Dương đang bị xói mòn. Việc mất bất kỳ một quốc gia nào ở Đông Nam Á vào tay cộng sản cũng sẽ gây ra những hậu quả tâm lý, chính trị và kinh tế to lớn đối với lợi ích của Mỹ. Mặc dù tình hình nghiêm trọng, song Harry Truman chẳng có mấy lựa chọn. Nước Mỹ đã cung cấp phần lớn trang thiết bị quân sự Pháp dùng ở Đông Dương và trong khi các lực lượng của Mỹ đang mắc kẹt ở Triều Tiên, việc dính líu nhiều hơn nữa vào một cuộc xung đột thứ hai ở Châu Á là điều không thể về mặt chính trị.

Nhưng có một lựa chọn khác, đó là các hoạt động bí mật. Đối với Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA), đã được thành lập năm năm nay, thì đây là một cơ hội hấp dẫn để đặt chân vào Đông Dương. Kết hợp giữa thái độ vừa lạc quan và vừa ngây thơ nổi lên trong những ngày đầu, CIA đã chọn một trong những sĩ quan trẻ của mình, Donald Gregg, và trao cho anh ta một nhiệm vụ táo bạo: Huấn luyện một nhóm người Việt về chiến thuật hoạt động theo quy mô đơn vị nhỏ và chuẩn bị cùng họ nhảy dù xuống khu vực nông thôn ở Bắc Việt Nam.

Vừa mới được đào tạo hoạt động bán quân sự và chưa từng phục vụ ở nước ngoài, Gregg đồng ý ngay. Bay sang Thái Lan, anh ta chọn mười người Việt Nam và đưa họ đến một cơ sở của CIA ở căn cứ hải quân của Mỹ ở Yokosuka, Nhật Bản để tiến hành huấn luyện cơ bản trong một tháng.

Có hai vấn đề nổi lên ngay lập tức. Thứ nhất, Gregg thấy hầu như không ai nghĩ gì về việc anh ta cùng những người được huấn luyện cần phải làm gì, một khi họ quay trở lại vùng nông thôn Việt Nam. Thứ hai, một vấn đề đáng lo ngại hơn, Gregg thấy hiểu biết về Việt Nam của anh ta cũng không hơn những người được anh ta huấn luyện.

Tất cả mười người này được tuyển mộ ở Thái Lan thông qua một đặc vụ và người này nói rằng họ nằm trong số năm mươi ngàn người Việt đã chạy sang Thái Lan ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Nhưng Gregg phát hiện ra rằng thực ra họ là những người di cư khỏi Việt Nam từ cách đó hơn 150 năm. Ngay cả CIA, một cơ quan luôn có thái độ lạc quan, cũng không thể nào lại thực hiện một hoạt động chỉ dựa trên một kế hoạch sơ sài như vậy. Gregg nhớ lại: “Sau đó, những người Việt này đã được chuyển về Thái Lan vào tháng Tư, tôi cảm thấy mình như thọ thêm được mấy năm”.

Bắt đầu sự nghiệp tại CIA vào năm 1951 khi mới 24 tuổi, Donald Gregg sau đó đã nắm giữ nhiều chức vụ khác nhau như cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, cố vấn cho Phó Tổng thống George H. W. Bush, và Đại sứ Hoa Kỳ tại Hàn Quốc
Bắt đầu sự nghiệp tại CIA vào năm 1951 khi mới 24 tuổi, Donald Gregg sau đó đã nắm giữ nhiều chức vụ khác nhau như cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ, cố vấn cho Phó Tổng thống George H. W. Bush, và Đại sứ Hoa Kỳ tại Hàn Quốc

Hai năm sau, CIA lại lần nữa chơi đùa với ý tưởng tiến hành các hoạt động bán quân sự bí mật ở Đông Dương. Lúc đó, quân đội của Việt Minh, bao gồm lực lượng chính quy và dân quân địa phương, đã lên tới hơn 350.000 người. Tuy việc rút khỏi Đông Dương chỉ là vấn đề thời gian, nhưng Pháp vẫn chỉ chấp nhận trang thiết bị và tiền bạc do Mỹ cung cấp, từ chối cố vấn của quân đội hoặc của CIA.

Tổng thống D. D. Eisenhower không ưa phương hướng hành động mà Pháp đang thực thi ở Việt Nam. Trong một cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC) ngày 21 tháng 1 năm 1954, ông ta nhấn mạnh không để cho Đông Dương rơi vào tay cộng sản và yêu cầu các cố vấn đề xuất các biện pháp để củng cố vị thế của Pháp. Ngoài giúp đỡ về vật chất, ông đặc biệt quan tâm đến khả năng tiến hành chương trình chiến tranh du kích, một chương trình có thể được tiếp tục sau khi Pháp có khả năng sẽ rút đi.

Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower (1890-1969)
Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower (1890-1969)

Đáp lại Tổng thống, Giám đốc CIA, Allen Dulles, đã phát biểu tại Hội đồng An ninh Quốc gia rằng ông ta có các chuyên gia bán quân sự sẵn sàng đến Đông Nam Á, nhưng người Pháp đã ngoan cố từ chối không cho phép. Dulles nhận xét, chiến tranh du kích là một quá trình lâu dài, đòi hỏi có sự chuẩn bị đầy đủ. Trong khi không còn đủ thời gian, ông gợi ý biện pháp đánh đổi cứng rắn với Pháp: Mỹ tiếp tục cung cấp trang thiết bị quân sự, đổi lại Pháp phải đồng ý cho Mỹ đưa nhân viên bán quân sự của CIA vào. Tổng thống Eisenhower đã đồng ý.

Giám đốc CIA Allen Dulles
Giám đốc CIA Allen Dulles

Tám ngày sau, các cố vấn hàng đầu của ông đã được triệu tập để tiếp tục họp. Tiếp tục chủ đề mà Eisenhower đã bỏ dở, Giám đốc CIA Dulles đã giới thiệu Edward Lansdale với những người tham gia cuộc họp và gợi ý cử ông ta là người đầu tiên đến Việt Nam. Vốn là một đại tá Không quân Mỹ được biệt phái sang làm việc lâu dài ở CIA, Lansdale nổi tiếng là một trong những chuyên gia hàng đầu về các hoạt động du kích và bán quân sự.

Ông đã để lại dấu ấn của mình ở Đông Nam Á khi làm việc với tư cách cố vấn cao cấp cho Tổng thống Philippines, Ramon Magsaysay. Ông đã giúp đánh bại phong trào phiến quân cộng sản Hukbalahap và điều đó làm cho Dulles và người anh của ông ta, Bộ trưởng Ngoại giao John Foster, rất có ấn tượng. Hội đồng An ninh Quốc gia đã yêu cầu ông chuẩn bị va li lên đường sang Việt Nam.

Trước khi Lansdale lên đường, cuộc chiến tranh Đông Dương đã bước vào giai đoạn cuối. Lực lượng của Pháp ở thung lũng Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc Việt Nam, vốn đã bị bao vây từ cuối năm trước, đang nhanh chóng trở thành chỗ dựa cuối cùng của Pháp.

Trong khi lực lượng Việt Minh đang thít chặt thòng lọng xung quanh Điện Biên Phủ, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đã nâng cấp nhóm cố vấn một người của Lansdale lên thành một phái đoàn thuộc CIA được biết tới với cái tên “Phái đoàn Quân sự Sài Gòn“(SMM). Phái đoàn này không làm việc với người Pháp mà sẽ làm việc với chính phủ chống cộng và mang danh nghĩa độc lập của Việt Nam do Hoàng đế Bảo Đại, một nhân vật bù nhìn do Paris dựng lên, đứng đầu.

Trước khi các thành viên của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn có cơ hội đặt chân lên đất Việt Nam, Điện Biên Phủ đã rơi vào tay Việt Minh vào đầu tháng Năm. Tổng thống Eisenhower đặc biệt không thích cách Pháp cai trị các thuộc địa Đông Dương, nhưng ông lại càng không thích ý tưởng về một chế độ Việt Minh. Trong khi các binh lính Pháp bị dẫn giải như những tù binh ra khỏi Điện Biên Phủ, ông ta đã cân nhắc đến khả năng tiến hành một chiến dịch hoạt động du kích lớn ở Bắc Việt Nam được hỗ trợ thông qua Thái Lan.

Tuy nhiên, tình thế mau chóng cho thấy rõ ràng là không có đủ thời gian cho những kế hoạch vĩ đại. Ở Geneva, một hội nghị quốc tế đang thương lượng vấn đề Pháp rút khỏi Đông Dương. Lo lắng về khả năng Pháp sẽ bán đứng mọi thứ, Lansdale lập tức lao đến Sài Gòn, trong khi hội nghị Geneva vẫn đang họp. Đến đó vào ngày 1 tháng Sáu, về danh nghĩa ông ta được cử làm một trợ lý tùy viên không quân tại Sứ quán Mỹ.

Edward Lansdale
Edward Lansdale

Không có đủ thời gian để tập hợp thêm các thành viên của Phái đoàn quân sự Sài Gòn, vì vậy Lansdale trong tháng đầu tiên đã cố tạo dựng các mối quan hệ với lực lượng vũ trang của Bảo Đại và làm việc với Đại đội Vũ trang Chiến tranh Tâm lý (Armed Psychological Warfare Company) ở Hà Nội.

Nhưng ông ta đã không có được thành công trọn vẹn: dưới sự chỉ đạo của Lansdale, trong phi vụ đầu tiên của đại đội này, hai thành viên trong nhóm đã chạy sang hàng ngũ cộng sản.

Ngày 1 tháng Bảy, Lansdale có thêm một cấp phó, Thiếu tá Lucien “Lou” Conein. Là một chuyên gia tự thân trong lĩnh vực bán quân sự, Conein đã từng thành công với những phi vụ như vậy. Được những người cùng hoạt động gắn danh là “Black Luigi – Luigi Đen”, Conein đã từng thâm nhập vào Bắc Việt Nam cách đây chín năm, khi còn làm việc trong Cơ quan Tình báo Chiến lược (Office of Strategic Services – OSS), tổ chức tiền thân của CIA trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

Không giống các sĩ quan OSS khác, những người đã cùng làm việc với Việt Minh để chống lại người Nhật, Conein đã liên hệ với những tổ chức bí mật của người Việt Nam do người Pháp lãnh đạo. Một số người này giờ đây đã trở thành các sĩ quan quân sự cao cấp của Việt Nam và đây là lợi thế của Conein.

Thiếu tá Lucien “Lou” Conein
Thiếu tá Lucien “Lou” Conein

Trong ba tuần sau đó, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn chỉ gồm có hai thành viên tiếp tục xây dựng các mối liên hệ với người Việt Nam. Ngày 21 tháng Bảy, hội nghị Geneva kết thúc. Theo giải pháp này, sẽ có một khoảng thời gian đình chiến 300 ngày, trong thời gian đó dân thường được tự do đi lại. Sau đó, đất nước sẽ tạm thời bị chia làm hai miền: toàn bộ lãnh thổ phía bắc vĩ tuyến 17 sẽ được trao cho Việt Minh, trong khi đó toàn bộ vùng đất phía nam vĩ tuyến đó, sẽ do chế độ Bảo Đại thân phương Tây do người Pháp lập ra trước đó cai quản.

Thủ đô của Bắc Việt Nam do Việt Minh kiểm soát là Hà Nội, trong khi Nam Việt Nam lại do Bảo Đại điều hành từ Sài Gòn. Về mặt lý thuyết, sau hai năm sẽ có một cuộc tổng tuyển cử dự kiến tổ chức vào năm 1956 để thống nhất đất nước. Bên cạnh đó, từ sau ngày 11 tháng Tám, số nhân viên quân sự nước ngoài sẽ đóng băng.

Chính quyền của Tổng thống Eisenhower coi giải pháp Geneva là một thảm họa và ngay lập tức thay đổi nhiệm vụ của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn. Với việc Bắc Việt Nam sẽ sớm nằm dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của cộng sản, nhiệm vụ chính của Lansdale bây giờ là tổ chức các hoạt động kháng chiến bên kia chiến tuyến.

Để làm việc đó, CIA có thể sử dụng một tiền lệ. Ở Tây Âu, CIA đã đặt nền móng cho việc xây dựng một mạng lưới du kích bí mật trước khi Liên Xô có thể xâm lược. Ở Châu Á cũng vậy, CIA cũng đã nuôi dưỡng một đơn vị cảnh sát tinh nhuệ Thái Lan để tiến hành cuộc kháng chiến chống lại nguy cơ Trung Quốc tiến xuống phía nam. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, các mạng lưới ở sau chiến tuyến chưa bao giờ được thử thách.

Trong việc thành lập một mạng lưới của người Việt, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Đại Việt, một phong trào bí mật có tư tưởng dân tộc cực đoan được thành lập vào năm 1939. Đại Việt, có nghĩa là nước Việt Nam vĩ đại, được sinh ra từ phong trào chống lại ách cai trị thực dân Pháp. Từ đó, đã hình thành một liên minh ngắn ngủi với những người có tư tưởng dân tộc trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai, gồm cả Việt Minh.

Sau chiến tranh, ban lãnh đạo Đại Việt chạy sang Trung Quốc. Quay trở lại Việt Nam vào năm 1947, phong trào này hạ giọng chống Pháp, cố gắng vứt bỏ hình ảnh tinh hoa của mình nhằm lôi kéo quần chúng. Đại Việt cũng bắt đầu tập trung đến mối đe dọa của Việt Minh. Năm 1951, Đại Việt bắt đầu có những hành động vũ trang chống lại những người cộng sản, thành lập lực lượng dân vệ bán vũ trang ở Miền Bắc liên minh lỏng lẻo với Pháp. Tháng 12 năm 1953, lực lượng dân vệ này đã lên tới khoảng 17.000 người.

Hiệp định Geneva báo hiệu cơ sở quyền lực của Đại Việt ở Miền Bắc đã chấm dứt, vì vậy Lansdale cho rằng một kế hoạch nằm vùng sẽ là điều hấp dẫn với Đại Việt. Thông qua những đầu mối tiếp xúc do tình báo Pháp cung cấp, tháng Bảy năm 1954, Lansdale đã ra Hà Nội để thăm dò Đại Việt.

Tại Hà Nội, ông đã gặp Phan Huy Quát, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, một trong hai quan chức cấp cao của Đại Việt giữ cương vị bộ trưởng trong chính phủ Bảo Đại. Sau khi nghe vị đại tá Mỹ trình bày, ông Quát đã gợi ý ông ta nên gặp một nhân vật Đại Việt nữa, đồng thời là người có họ hàng thông qua quan hệ hôn nhân, Bác sĩ Đặng Văn Sung.

Phan Huy Quát
Phan Huy Quát

Ông Sung, Tổng bí thư không chính thức của Đại Việt, sinh ra trong một gia đình địa chủ giàu có ở Nghệ An. Thông minh, lịch lãm và nghiêm nghị, ông có bằng bác sĩ y khoa, nhưng thay vì làm bác sĩ, ông gia nhập Đại Việt vào năm 1940 và nhanh chóng trở thành một trong những lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của Đại Việt.

Sau các cuộc tấn công của Việt Minh chống lại phong trào này sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, ông có một thời gian ngắn sống lưu vong ở Trung Quốc và trở về Việt Nam vào năm 1947 để đóng một vai trò quan trọng trong các tờ báo và tổ chức thanh niên của Đại Việt. Là một trong những người đầu tiên trong Đảng Đại Việt đề xướng hợp tác với Hoàng đế Bảo Đại, Sung là người công khai lớn tiếng phản đối Hiệp định Geneva, đặc biệt là điều khoản chia cắt Việt Nam.

Bác sĩ Đặng Văn Sung (người đầu tiên ở hàng trên, từ phải sang) cùng một số thành viên của Đảng Đại Việt tại Hà Nội
Bác sĩ Đặng Văn Sung (người đầu tiên ở hàng trên, từ phải sang) cùng một số thành viên của Đảng Đại Việt tại Hà Nội

Đi cùng với Quát, Lansdale tới trụ sở của Đại Việt tại Hà Nội. “Lansdale đã đề xuất kế hoạch xây dựng một tổ chức nằm vùng ở miền Bắc và chúng tôi đã nói chuyện với nhau trong hai ngày”, Quát nhớ lại. “Ông ta đã chỉ ra cho chúng tôi thấy Đại Việt vẫn chỉ là đảng của một nhóm hành động và đảng của trí thức chứ không phải một đảng quần chúng. Ông ta đưa ra một thách thức: nếu chúng tôi chứng minh được rằng chúng tôi có thể làm việc với quần chúng, ông ta sẽ ủng hộ một mạng lưới nằm vùng ở Miền Bắc. Tôi đã nắm lấy cơ hội đó để chứng minh khả năng của mình”.

Lansdale trở lại Sài Gòn, gặp thêm mười sĩ quan CIA, tất cả đều là các chuyên gia hoạt động tình báo bí mật bán quân sự. Những người này đã nhanh chóng được phái từ Nhật Bản, Triều Tiên và Okinawa tới để trợ lực cho Phái đoàn Quân sự Sài Gòn trước thời hạn 11 tháng 8 như quy định trong Hiệp định Geneva.

Điều này làm cho Việt Nam trở thành nước duy nhất có hai trạm CIA hoạt động cùng một lúc: Một cơ quan với người đứng đầu chỉ tập trung vào các hoạt động gián điệp thông thường và Phái đoàn Quân sự Sài Gòn do Lansdale đứng đầu, phụ trách các hoạt động bán quân sự. Trong khi trưởng trạm và gián điệp của CIA hoạt động dưới vỏ ngụy trang là cán bộ ngoại giao trong sứ quán, Lansdale và nhân viên của ông lại có chỗ làm việc trong Nhóm Cố vấn và Viện trợ Quân sự ở Đông Dương (MAAG) có trụ sở ở Sài Gòn và trực thuộc Lầu Năm Góc từ trước vẫn cung cấp viện trợ quân sự cho Pháp.

Với Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã đầy đủ lực lượng, Lansdale giao cho Conein làm việc với Sung về một chương trình chi tiết liên quan đến hoạt động nằm vùng của Đại Việt. Vừa hết hạn làm việc ở Tây Đức để đưa một số điệp viên thâm nhập qua Bức màn sắt, Conein hiểu biết đầy đủ về việc xây dựng mạng lưới gián điệp. Trên danh nghĩa, phân đội của ông được cử đến MAAG giám sát gần một triệu người tỵ nan dự kiến sẽ vào Nam trong giai đoạn 300 ngày ân hạn theo quy định của Hiệp định Geneva. Do đó, ông dễ có lý do để đi lại giữa Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng.

Nhiệm vụ này không hề dễ dàng. Đặc vụ của Việt Minh đã bắt đầu bí mật kiểm soát Hà Nội. Chạy đua với thời gian, Sung đã chọn Cao Xuân Tuyên, một sĩ quan cao cấp của Đại Việt và là một đại úy trong quân đội của Bảo Đại để bắt đầu tuyển mộ người. Người đầu tiên mà Tuyên tuyển mộ là Trần Minh Châu.

Là một tín đồ đạo Thiên chúa, quê ở thành phố Nam Định, ông đã tham gia Việt Minh vào những ngày cuối cùng của Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Làm đến chủ tịch xã, ông ta đã lãnh đạo dân quân du kích ở địa phương chống lại Pháp cho đến khi bị bắt vào năm 1949. Ở trong tù, ông ta đã ly khai với cộng sản và cùng với nhiều người Nam Định theo đạo Thiên Chúa nghiêng về phía Đại Việt và cuối cùng đã gia nhập đảng này.

Đối tượng tuyển mộ tiếp theo của ông ta là Nguyễn Kim Xuyến. Cũng là một tín đồ đạo Thiên Chúa quê ở Nam Định, Xuyến là người rất bảo thủ và là một nhà báo viết chuyên mục trong một tờ báo của Đại Việt. Có hai người để bắt đầu xây dựng một nhóm nằm vùng là một khởi đầu tốt. Tuyên chỉ có đến cuối tháng Tám để tuyển mộ thêm mười tám người. Ông đã không làm được, đến cuối tháng đó, ông ta chỉ tuyển được mười bốn người trong Đảng Đại Việt.

Được đặt mật danh là “nhóm Binh”, tổng số mười sáu người của Đại Việt đã được tập hợp cho Conein. Theo kế hoạch của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn, giúp đỡ của CIA cho nhóm Binh chỉ mang tính chất tạm thời, với dự định quyền kiểm soát nhóm này về sau sẽ giao lại cho chính phủ Bảo Đại ở Sài Gòn.

Những điều kiện này đã được ban lãnh đạo Đại Việt chấp nhận. Nhóm mười sáu người này đã được ô tô đưa xuống Hải Phòng vào đầu tháng Chín, sau đó bí mật lên một tàu chiến của Mỹ và được đưa tới Okinawa. Trải qua một tháng thử thách về tâm lý và thể chất, tháng Mười năm đó, nhóm này tập hợp lại và được đưa tới một trung tâm huấn luyện trị giá 28 triệu đô la của CIA ở Saipan.

Dù đã bước vào năm hoạt động thứ tư, song căn cứ Saipan lại được đặt tên nghe có vẻ vô hại là Đơn vị Huấn luyện Kỹ thuật Hải quân và đây là trung tâm huấn luyện đầu tiên của CIA ở Viễn Đông. Trước đây, căn cứ này đã từng huấn luyện cho Triều Tiên, Đài Loan và Thái Lan, với nhiều lớp học tách biệt dành cho học viên nước ngoài. Một trong các sĩ quan so sánh Saipan với căn cứ huấn luyện chính của CIA ở Williamsburg, Virginia: “Các cơ sở ở Saipan thực sự đầy đủ, giống như Fort Peary thu nhỏ”.

Một căn cứ của Mỹ trên đảo Saipan (Quần đảo Mariana, Thái Bình Dương)
Một căn cứ của Mỹ trên đảo Saipan (Quần đảo Mariana, Thái Bình Dương)

Tại Saipan, nhóm Đại Việt được tuyển mộ này giảm xuống còn 12 người. Họ tiếp tục được huấn luyện và đặt mật danh tiếng Anh và tiếng Pháp. Được bốn cố vấn Mỹ hướng dẫn, họ được giảng về những vấn đề cơ bản trong hoạt động bán vũ trang và nghiệp vụ điệp viên. Không phải là thu xếp hoàn hảo, chương trình giảng dạy được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Pháp và sau đó được một trong các học viên dịch lại sang tiếng Việt.

Sau khi chương trình kèm cặp cơ bản này kết thúc, những người được tuyển mộ sẽ chia thành ba nhóm nhỏ. Nhóm thứ nhất, trong đó có Trần Minh Châu, giờ có biệt hiệu là Leslie, và ba người khác, được đào tạo về vũ khí, chất nổ và hoạt động phá hoại. Nhóm thứ hai, tổng cộng có năm người, được huấn luyện khá kỹ về hoạt động gián điệp. Nhóm thứ ba gồm ba người được huấn luyện chuyên về thông tin liên lạc.

Khóa huấn luyện ở Saipan dự kiến kéo dài sáu tháng, nhưng CIA đã quyết định nếu nhóm của Binh ở lại theo hết chương trình thì sẽ không đủ thời gian để thâm nhập, trước khi Việt Minh nắm quyền kiểm soát toàn bộ Bắc Việt Nam. Vì vậy, chỉ sau bốn tháng, ba nhóm đã tập hợp lại và được một chuyên gia phát hiện nói dối của CIA kiểm tra lần cuối. Đóng giả là một sĩ quan cảnh sát của Việt Minh, ông ta đã giả vờ tiến hành hỏi cung các điệp viên. Một điệp viên bị loại khi người đó bị lộ tẩy là chỉ điểm cho Pháp. Sau này, các sĩ quan CIA được thông báo là người đó khi trở về Sài Gòn đã bị chặt đầu.

Có một điều mà nhóm Binh không biết, đó là họ không phải là những người Việt duy nhất ở Saipan. Hồi tháng Chín, một mạng lưới nằm vùng thứ hai cũng được hình thành ở Sài Gòn, do Phái đoàn Quân sự Sài Gòn bảo trợ. Được gọi là nhóm “Hao”, những điệp viên này được tuyển mộ từ Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ).

Được thành lập năm 1927 như một bộ phận của Quốc Dân Đảng (Koumintang) ở Trung Quốc, VNQDĐ ban đầu khá nổi bật trong những người có tư tưởng dân tộc sau khi lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống thực dân vào năm 1930. Bị Pháp đàn áp dã man, những người lãnh đạo cuộc nổi dậy buộc phải chạy sang Trung Quốc, sống lưu vong cho đến sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai.

Sau khi trở về Việt Nam, lực lượng của họ bị Việt Minh tiêu diệt và chỉ còn là cái bóng của chính mình trong những năm đầu 1950. Tuy nhiên, vào cuối năm 1954, đảng này vẫn có những đảng viên tình nguyện tham gia các khóa huấn luyện gián điệp. Được Lansdale giúp đỡ, lãnh đạo đảng đã tuyển mộ được 21 người để đưa sang huấn luyện tại Saipan.

Trong khi các điệp viên nằm vùng đang được huấn luyện ở nước ngoài, Phái đoàn Quân sự Sài Gòn lại bận rộn với các dự án khác. Vào lúc chế độ cộng sản đang có những chuẩn bị cuối cùng để tiếp quản chính thức Hà Nội vào ngày 11 tháng Mười, Lansdale lại dành nhiều thời gian để tiến hành một chiến dịch tâm lý nhằm khuấy động thái độ bất mãn với những người cai trị mới, ngay từ trước khi họ ổn định công việc.

Trong khi có rất nhiều người tỵ nạn rời bỏ quê hương của họ ở Miền Bắc để chạy vào Miền Nam trong thời gian đình chiến quy định trong Hiệp định Geneva, Lansdale đã thực hiện nhiều biện pháp để bảo đảm dòng người tỵ nạn này càng nhiều. Sử dụng biện pháp tuyên truyền để thuyết phục người dân rằng cuộc sống ở Miền Nam tốt đẹp hơn, Lansdale cũng reo rắc tin đồn rằng người Trung Quốc, vốn từ bao đời nay đã bị người Việt không ưa, dù cho họ ở cùng trong một liên minh cộng sản, hiện có kế hoạch sẽ đóng một vai trò tích cực trong việc quản lý đất nước Việt Nam.

Tin đồn cũng nói rằng nhiều người Việt sẽ bị đưa sang Trung Quốc để làm công nhân đường sắt. Lansdale cũng lợi dụng nỗi lo sợ của những tín đồ đạo Thiên Chúa đối với những người cộng sản vô thần, in truyền đơn trong đó nói rằng “Đức Mẹ Đồng trinh đang đi vào Nam” và hứa hẹn sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn cho các tín đồ đạo Thiên Chúa ở Miền Nam. Những câu chuyện thêu dệt về tội ác của cộng sản cũng giúp làm tăng thái độ bất bình.

Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-226)
Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-226)
Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-224f – Nguồn: www.archives.gov)
Áp phích tuyên truyền của chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do năm 1954 (Lưu trữ của Cục Thông tin Hoa Kỳ, ảnh số 306-ppb-224f – Nguồn: www.archives.gov)

Cú đánh tuyên truyền táo bạo và thành công nhất của Lansdale được tiến hành khi nhân viên của ông phân phát các truyền đơn với chữ ký của các quan chức Việt Minh chỉ thị cho người dân phải hành xử như thế nào khi cộng sản tiếp quản Hà Nội vào tháng Mười, gián tiếp nói đến việc tái phân phối tài sản cá nhân và cải cách hệ thống tiền tệ. Theo Lansdale, chiến dịch này đã thành công lớn.

Ông ta viết: “Một ngày sau khi những truyền đơn này được phân phát, số người đăng ký xin di cư đã tăng gấp ba lần… Hai ngày sau, giá trị đồng tiền của Việt Minh giảm một nửa so với trước khi có các truyền đơn.Việt Minh đã sử dụng đài phát thanh để tố cáo những truyền đơn này. Những tờ truyền đơn, về hình thức, trông giống thật đến nỗi phần lớn cán bộ cấp dưới lại tin rằng những lời tố cáo trên đài phát thanh là một âm mưu của người Pháp”.

Thậm chí người Pháp cũng bị đánh lừa. Họ đã bắt giam một thành viên trong các nhóm người Việt thuộc quyền của Lansdale trong khi anh ta đang phân phát truyền đơn vào buổi tối và buộc tội anh ta là điệp viên của Việt Minh.

Tàu sân bay HMS Warrior đưa 1455 người di cư từ Hải Phòng tới Sài Gòn trong chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do, ngày 4 tháng 9 năm 1954 (Nguồn: iwm.org.uk)
Tàu sân bay HMS Warrior đưa 1455 người di cư từ Hải Phòng tới Sài Gòn trong chiến dịch Hành Trình Tới Tự Do, ngày 4 tháng 9 năm 1954 (Nguồn: iwm.org.uk)

Trong tuần đầu tháng Mười, phân đội của Conein ở phía Bắc chuẩn bị rời Hà Nội ngay trước khi lực lượng Việt Minh tiến vào. Những ngày cuối cùng, họ tập trung tiến hành các hoạt động phá hoại âm thầm trong thành phố. Điệp viên đã lẻn vào một xưởng xe buýt để gây nhiễm bẩn các thùng chứa xăng dầu và bí mật chuyển các gói thuốc nổ giống như những viên than do một nhóm kỹ thuật viên của CIA chế tạo vào các điểm cung cấp nhiên liệu tại nhà máy xe lửa của thành phố. Cả hai phi vụ trên đều có những lúc khá hài hước. Conein hồi tưởng:

Các chất gây nhiễm bẩn xăng dầu được đóng trong hộp tròn chuyển từ Nhật Bản về. Khi chúng tôi mở ra, mùi của nó suýt làm chúng tôi ngất xỉu trong khi chúng tôi đang ở trong trạm xe buýt, nhưng chúng tôi đã trấn tĩnh lại để đổ các chất này vào trong các thùng xăng dầu và sau đó rời đi. Các viên than chứa chất nổ cũng được chuyển từ Nhật Bản tới. Ý định là đặt những viên than đó tại các nơi bốc dỡ hàng và chờ tiếng nổ lớn. Chúng tôi sợ sẽ có ai đó đi ngang qua, ăn cắp những viên than mang về nhà để đun nấu, rồi bị nổ tung. Sau này, chúng tôi nghe nói những viên than chứa chất nổ đã làm nổ tung một số đầu máy xe lửa”.

Thực hiện xong các hoạt động phá hoại, Conein và người của ông ta chuyển xuống Hải Phòng để tìm địa điểm bí mật cất giấu vũ khí và trang thiết bị dành cho nhóm Binh (cho đến tận tháng Năm năm 1955, thành phố này mới được chuyển giao cho Việt Minh). Tháng Giêng năm 1955, đồ tiếp tế được máy bay của hãng Vận tải Hàng không Dân dụng (Civil Air Transport), thuộc sở hữu của CIA, chuyển từ Sài Gòn ra và các nhóm này bắt đầu hoạt động.

Súng đạn được cất giấu dưới nền các ngôi nhà, những đồ tiếp tế khác được đưa đến các nghĩa trang và chôn trong các đám tang giả dưới sự chỉ đạo của Phái đoàn Quân sự Sài Gòn. Cho đến cuối tháng, mọi thứ đã được chôn giấu xong.

Ngày 8 tháng Hai, điệp viên trong nhóm Binh đã vượt qua các buổi kiểm tra phát hiện nói dối và được đưa trở lại Sài Gòn. Tại Sài Gòn, họ trải qua một tháng học tập chính trị, trước khi thâm nhập Miền Bắc. Theo kế hoạch, 12 điệp viên sẽ được chia về ba địa điểm. Leslie, được phong cấp trung úy, sẽ chỉ huy chung. Anh ta và năm điệp viên khác sẽ hoạt động ở Hà Nội, ba người nữa hoạt động ở Hải Phòng và ba người cuối cùng sẽ hoạt động ở Nam Định.

Vào đầu tháng Ba, cả 12 điệp viên được tàu biển đưa ra Hải Phòng. Tại đó, Conein thông báo ngắn gọn về tình hình và trao cho họ các giấy tờ tùy thân giả. Công việc và chỗ ở mới cũng đã được Phái đoàn Quân sự Sài Gòn thu xếp. Phần lớn họ sẽ giả làm ngư dân. Đến cuối tháng đó, họ đã thâm nhập thành công vào đời sống xã hội ở Miền Bắc. Như vậy, mạng lưới của nhóm Binh đã hình thành và đi vào hoạt động ổn định.

Việc thâm nhập của nhóm Hao, thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, là một hoạt động với tham vọng lớn hơn nhiều. Khoảng tám tấn rưỡi hàng tiếp viện, gồm 14 điện đài, 300 súng các-bin, 50 súng ngắn và hơn 130 kilogam chất nổ, đã lặng lẽ được đưa vào miền bắc bằng máy bay hoặc tàu thủy trong khoảng thời gian từ tháng Hai đến tháng Ba. Phần lớn đồ tiếp tế này được cất giấu ở các địa điểm dọc sông Hồng. Phần còn lại được cất giấu dưới các nền nhà ở Hải Phòng.

Số hàng tiếp viện khác được chuyển giao cho mạng lưới của Quốc Dân Đảng. Bùi Văn Ninh, một đảng viên của đảng này và là sĩ quan thuộc Cơ quan Thông tin của Chính phủ Bảo Đại là một trong số những người được huy động để cất giấu đồ tiếp tế:

Một giáo sư luật, người đã từng giảng dạy ở Đại học Hà Nội, một người mà tôi đã quen biết trong một thời gian, đã nhờ tôi giấu hai điện đài do người Mỹ cung cấp. Các điện đài này được đóng trong những thùng lớn. Tôi đã đào một hố sâu tới hai mét trong nhà tôi ở đường Sơn Lâm, Hải Phòng và giấu một chiếc ở đó. Tôi mang chiếc thứ hai đến nhà một người thân, cách đó hai cây số và chôn trong một cái hố cũng sâu hai mét”.

Trong tháng Tư, các thành viên của nhóm Hao kết thúc khóa học ở Saipan và được đưa đến căn cứ không quân Clark ở Philippines để nghe thông báo tình hình lần cuối. Sau đó, họ lên một tàu chiến của Hải quân Mỹ và được đưa thẳng về Hải Phòng. Chia thành từng toán nhỏ, dưới bóng đêm dầy đặc, họ lẻn lên bờ, chia thành bốn nhóm, đi về phía các thành phố Hà Đông, Hải Phòng, Hà Nội và Sơn Tây.

Một tháng sau, thực hiện Hiệp định Geneva, lực lượng Việt Minh tiến vào tiếp quản Hải Phòng và các khu vực khác mà Pháp chiếm đóng ở vùng ven biển Bắc Việt Nam. Sau khi đã cài cắm hai mạng lưới gián điệp, đơn vị của Conein rút vào Sài Gòn.

Phố Commerce (Thương Mại) ở Hải Phòng năm 1954, nay là phố Lý Thường Kiệt. Hình ảnh do David Putnam, một nhân viên quân sự Mỹ thực hiện trong thời gian tàu USS Tolovana AO-64 của Mỹ neo đậu ngoài khơi Hải Phòng để tiến hành cuộc di dân vào miền Nam Việt Nam trước khi Việt Minh tiếp quản thành phố
Phố Commerce (Thương Mại) ở Hải Phòng năm 1954, nay là phố Lý Thường Kiệt. Hình ảnh do David Putnam, một nhân viên quân sự Mỹ thực hiện trong thời gian tàu USS Tolovana AO-64 của Mỹ neo đậu ngoài khơi Hải Phòng để tiến hành cuộc di dân vào miền Nam Việt Nam trước khi Việt Minh tiếp quản thành phố
Thủy phi cơ Martin P5M Marlin của Mỹ nạp nhiên liệu trên biển Cát Bà, năm 1954 (Ảnh: David Putnam)
Thủy phi cơ Martin P5M Marlin của Mỹ nạp nhiên liệu trên biển Cát Bà, năm 1954 (Ảnh: David Putnam)

Giờ đây ở phía sau chiến tuyến của cộng sản, các gián điệp của nhóm Binh bắt đầu thực hành những gì họ đã được huấn luyện. Nhóm hoạt động ở Hải Phòng phải chịu gánh nặng công việc lớn nhất và họ bắt đầu lấy các trang thiết bị đã được chôn giấu trước đó. Trong một thời gian ngắn, họ đã lặng lẽ lấy được toàn bộ điện đài và vũ khí đã cất giấu.

Trong những thứ được cung cấp, có cả loại chất nổ được chế tạo giống viên than mà trước đó Phái đoàn Quân sự Sài Gòn đã sử dụng để gây ra vụ nổ ở một xưởng đầu máy xe lửa của Hà Nội. Một gián điệp trong nhóm hoạt động ở Hải Phòng, Bùi Mạnh Hà, bí danh là Bosco, đã mua một chiếc xe tắc xi nhãn hiệu Citroen và bắt đầu vận chuyển trang thiết bị đến các địa điểm của nhóm Binh.

Tại Sài Gòn, rắc rối bắt đầu nhen nhóm, xuất phát từ thỏa thuận trước đây giữa Lansdale và ban lãnh đạo Đại Việt. Lansdale đã nói rằng mạng lưới gián điệp nằm vùng sau này sẽ nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền trung ương ở Sài Gòn. Đại Việt đã đồng ý với điều đó.

Thỏa thuận trên rất có ý nghĩa vào thời điểm lúc đó, bởi trong chính phủ Bảo Đại, có rất nhiều đại diện của Đại Việt tham gia, gồm cả hai bộ trưởng nội các. Nhưng đến đầu năm 1955, thành phần chính phủ đã có thay đổi lớn. Thủ tướng mới, Ngô Đình Diệm, là một viên quan trong triều đình cũ và theo đạo Thiên Chúa. Ông không cho phép cạnh tranh quyền lực. Ngay sau khi lên nắm quyền, ông liền kiên quyết thanh trừng các nhân vật của Đảng Đại Việt.

Ngô Đình Diệm
Ngô Đình Diệm

Đảng Đại Việt coi Diệm là một mối đe dọa, nhưng Lansdale lại ủng hộ ông ta. Giống như đối với Magsaysay ở Philippines, Lansdale đã lựa chọn một nhân vật chính trị đơn nhất có khả năng lãnh đạo để ủng hộ. Ông ta đã nhanh chóng đặt cược niềm tin của mình vào thành công của Diệm. Là một phần trong mối quan hệ thân thiết, Lansdale đã thông báo cho Diệm về sự tồn tại của các gián điệp của Đại Việt ở Bắc Việt Nam.

Biết được điều này, Diệm đòi hỏi phải có quyền điều hành mạng lưới gián điệp này. Bác sĩ Đặng Văn Sung, Tổng thư ký của Đại Việt liền phản đối, lập luận rằng các gián điệp được cài lại ở Miền Bắc là công cụ lâu dài để thúc đẩy sự nghiệp của Đại Việt, không phải công cụ của cá nhân của Tổng thống. Sung cho rằng Diệm sẽ không sử dụng đúng mục đích các gián điệp này:

Họ là điệp viên bí mật, hoạt động chống cộng sản. Nhiệm vụ chính của họ là tuyển mộ thêm người. Vì vậy, chúng tôi đã cử một nhóm thứ hai, gồm các đảng viên Đại Việt là người Miền Bắc di cư, sống xung quanh Sài Gòn, để đưa sang Saipan huấn luyện, đào tạo. Nhóm này bao gồm cả những người dân tộc thiểu số và dự kiến họ sẽ được đưa vào Miền Bắc để tăng cường cho mạng lưới hiện có. Người của Diệm không muốn gián điệp, họ chỉ muốn có biệt kích”.

Cuối cùng, hai bên đã đạt được một thỏa hiệp nhân nhượng. Sung được phép tiếp tục kiểm soát nhóm gián điệp thứ hai của Đại Việt được huấn luyện tại Saipan, những người này sau đó sẽ được giữ lại ở Sài Gòn để trở thành các cán bộ đảng. Tuy nhiên, Diệm sẽ nắm nhóm gián điệp thứ nhất và Sung hoàn toàn bị loại ra khỏi chương trình này.

Xem thêm: Ngô Đình Nhu, phi vụ Maneli 1963, và cuộc “đi đêm” giữa Sài Gòn và Hà Nội

Sung bị thay bằng Tướng Nguyễn Ngọc Lễ, người đứng đầu Lực lượng Cảnh sát Quốc gia mới. Lễ trước đây đã từng làm việc với Phái đoàn Quân sự Sài Gòn trong khi tổ chức thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam (Vietnam Veterans League), cho nên ông ta đã quen biết Lansdale. Với việc Tướng Lễ về danh nghĩa phụ trách chương trình này, Cao Xuân Tuyên, một quan chức Đại Việt phụ trách việc tuyển mộ, đã dùng điện đài thông báo cho nhóm Binh về những thay đổi mới trong hệ thống chỉ huy ở Sài Gòn. Leslie, thay mặt cho các gián điệp khác, đã hứa sẽ trung thành với Diệm.

Tướng Nguyễn Ngọc Lễ
Tướng Nguyễn Ngọc Lễ

Như Bác sĩ Sung đã e ngại trước đó, thay đổi này không chỉ là ngữ nghĩa. Theo điều hành của những người chỉ huy mới, các điệp viên nằm vùng được chỉ thị phải hoàn thành hai sứ mạng có vẻ không phù hợp nhau. Một mặt, họ được khuyến khích tiến hành các hoạt động biệt kích, thí dụ như các hoạt động phá hoại mà nhất định sẽ bị nhà cầm quyền chú ý. Mặt khác, họ được yêu cầu phải mở rộng mạng lưới gián điệp, một công việc chỉ có thể được hoàn thành trên cơ sở gây càng ít chú ý càng tốt.

Các điệp viên trong nhóm Binh tất nhiên tỏ ra do dự không muốn tiến hành hoạt động phá hoại, trừ một trường hợp ngoại lệ. Sử dụng chất nổ dạng viên than, điệp viên nhóm Binh đã đặt một viên than như vậy tại sân ga ở Hải Phòng. Sau này, theo tin từ hãng thông tấn chính thức của Hà Nội, do cảnh giác nên một công nhân đã phát hiện ra viên than đáng nghi ngờ đó trước khi nó phát nổ, gây thiệt hại.

Cũng có những nỗ lực tuyển mộ điệp viên mới. Dưới vỏ bọc là thợ sửa chữa xe đạp, Leslie báo cáo rằng anh ta đã tuyển mộ thêm hai người mới, vốn đều là thành viên của Đại Việt.

Từ Sài Gòn, Tướng Lễ và các đồng nghiệp người Mỹ của ông ta không ấn tượng lắm với những kết quả hạn chế đã đạt được cho đến lúc đó. Tồi tệ hơn nữa, một số sĩ quan CIA trong tòa Đại sứ Mỹ còn cho rằng họ đã phát hiện được những dấu hiệu cho thấy các điệp viên này hoạt động hai mang. Để kiểm tra, các sĩ quan này muốn đưa một trong các điệp viên nói trên vào Nam để thông báo tình hình.

Lansdale kịch liệt phản đối kế hoạch đó, sợ rằng việc đó sẽ làm lộ vỏ bọc của điệp viên và sẽ không thể đưa anh ta trở lại Miền Bắc được nữa. Nhưng, đúng vào lúc đó, Lansdale sắp sửa được luân chuyển về nước và việc đảm trách các hoạt động bán quân sự thuộc Phái đoàn Quân sự Sài Gòn được chuyển giao cho cơ quan CIA. Do quan hệ giữa Phái đoàn Quân sự Sài Gòn và cơ quan CIA chưa bao giờ là tốt, lời khuyên của Lansdale đã không được chú ý tới.

Một thành viên của nhóm hoạt động ở Nam Định bí danh là André đã xung phong vào Nam. Ngày 6 tháng 9 năm 1956, André đã lẻn vào Nam, đi dọc theo vùng cán xoong và vượt biên. Sau khi vào đến Sài Gòn, trong hai ngày liền, anh ta đã bị kiểm tra bằng phương pháp phát hiện nói dối. Sau khi CIA cảm thấy hài lòng với kết quả rằng anh ta không phải điệp viên hai mang, anh ta được thông báo về tình hình trong suốt chín ngày nữa, rồi được đưa trở lại miền Bắc với một lượng tiền lớn để phân phát cho các thành viên trong nhóm Binh.

Chuyến đi của André đã khôi phục niềm tin của CIA vào mạng lưới Binh, thậm chí làm cho cơ quan này bị mù tịt không biết gì về thực tế tình hình ở Bắc Việt Nam. Trong suốt một năm trời, các nhà chức trách cộng sản đã thắt chặt vòng vây đối với nhóm điệp viên này bắt đầu từ khi ba viên than chứa chất nổ bị phát hiện trong một đợt công an truy quét các phần tử buôn bán than trái phép. Khi cuộc điều tra lần theo nguồn gốc của chất nổ phát hiện ra một điệp viên của nhóm Binh, cơ quan tình báo Bắc Việt Nam đã thâm nhập được vào một phần của mạng lưới này. Trong số các điệp viên bị bắt có André.

Trong một thời gian ngắn, Hà Nội đã không dẹp toàn bộ hoạt động của Đại Việt, với hy vọng sẽ sử dụng nó để phục vụ cho mình. Trong mỗi nhóm gián điệp Binh có ít nhất một điệp viên vẫn được phép hoạt động dưới sự kiểm soát của Sài Gòn cho đến tận mùa thu năm 1958. Các nhóm này đã cùng nhau tuyển mộ thêm được ít nhất bảy người nữa, trong đó có một phụ nữ.

Sau đó, ngày 12 tháng 11 năm 1958, lực lượng an ninh của Bắc Việt Nam đã bắt toàn bộ số điệp viên còn lại trong nhóm Binh. Bosco, viên chỉ huy nhóm ở Hải Phòng vốn được huấn luyện tại Saipan, đã bị bắt khi một trong những người trong nhóm anh ta sử dụng điện đài giấu trong một chiếc bàn để chuyển một bức điện vào Sài Gòn. Tổng chỉ huy Leslie bị bắt ở Hà Nội trong khi một thành viên thứ ba, cũng được đào tạo ở Saipan, mật danh là Philip, bị bắt ở Nam Định.

Ngày 4 tháng Tư năm 1959, tòa án xét xử nhóm Binh được tổ chức ở Hà Nội. Mười nghi phạm bị đưa ra công khai trước công chúng. Bên cạnh phòng xử án, nhà chức trách Hà Nội cũng trưng bày trang thiết bị thu được từ nhóm Binh. Những thứ được trưng bày gồm súng tiểu liên giảm thanh, thuốc nổ, súng lục loại nhỏ dùng lò xo để nạp đạn giấu trong tuýp thuốc đánh răng, điện đài. (CIA đã không che giấu bằng chứng cẩn thận.

Trong khi các vũ khí không có nhãn mác gì, trên điện đài lại gắn mác, ghi rõ là của Binh chủng Thông tin của Lục quân Mỹ). Theo phương cách tuyên truyền mạnh mẽ điển hình, Hà Nội cũng đưa ra những bức ảnh chụp một gián điệp đang đọc tạp chí khiêu dâm với những bức hình các cô gái đẹp dán trên tường.

Sau 24 giờ nghị án, các bản án đã được đưa ra. Bảy người bị kết án tới mười năm tù. Philip, một gián điệp hoạt động ở Nam Định, bị mức án hai mươi năm tù. Bosco, hoạt động ở Hải Phòng, bị tù chung thân. Leslie, tổng chỉ huy ở Hà Nội, bị kết án tử hình. Theo đài phát thanh Hà Nội, một đám đông khoảng mười ngàn người bên ngoài phòng xử hoan nghênh các quyết định nói trên.

Một tòa án ở Hải Phòng đã kết án mười gián điệp trong mạng lưới nằm vùng của Quốc Dân Đảng vào tháng Tư năm 1965 (Ảnh: TTXVN)
Một tòa án ở Hải Phòng đã kết án mười gián điệp trong mạng lưới nằm vùng của Quốc Dân Đảng vào tháng Tư năm 1965 (Ảnh: TTXVN)
Vũ khí và các đồ tiếp tế được tìm thấy trong những nơi chôn giấu của gián điệp Quốc Dân Đảng được trưng bày tại phiên tòa ở Hải Phòng (Ảnh: TTXVN)
Vũ khí và các đồ tiếp tế được tìm thấy trong những nơi chôn giấu của gián điệp Quốc Dân Đảng được trưng bày tại phiên tòa ở Hải Phòng (Ảnh: TTXVN)

Nhóm Binh đã bị lộ tẩy, nhưng mạng lưới của nhóm Hao chỉ tồn tại mà hầu như không có hoạt động gì. Ngay từ đầu đã không suôn sẻ, người đứng đầu nhóm, Nguyễn Tiến Thành, đã bị mất liên lạc với phần lớn các thành viên trong nhóm. Do vậy, nhiều trang thiết bị của nhóm đã không bao giờ được tìm thấy. Tồi tệ hơn nữa, anh ta phải nhiều tháng mới có trả lời đầu tiên từ Sài Gòn bằng điện đài.

Theo những tường thuật của Hà Nội, Thành đã ra lệnh cho hai điệp viên “vào đầu tháng tám” (ngày cụ thể không được nêu) phải tìm đường vào Nam qua khu phi quân sự phân cách hai miền ở vĩ tuyến 17. Rõ ràng, Hà Nội có vẻ lúng túng khi tiết lộ chuyện này xảy ra vào tháng 8 năm 1963: bởi trong suốt tám năm trời, gián điệp của Quốc Dân Đảng đã hoạt động ở Bắc Việt Nam mà không bị phát hiện.

Năm 1963, cả hai điệp viên được lệnh tới khu phi quân sự đã hoảng sợ và quay trở lại Hải Phòng sau khi mới chỉ đi được một nửa đường. Sau đó ít lâu, một nhóm điệp viên khác của Quốc Dân Đảng cũng cố tìm cách đi sang phía Tây, đến vùng cao nguyên dọc biên giới với Lào để sống trong một buôn làng và lên kế hoạch cho các hoạt động chống lại chính phủ Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, cũng giống hai điệp viên trước, nhóm này đã rút ngắn chuyến đi và quay trở lại.

Đến năm 1964, vận may của cả nhóm đã chấm dứt. Năm đó, trong khi di dời một nghĩa trang cũ ở Hải Phòng, một nhóm công nhân xây dựng Bắc Việt Nam đã phát hiện một thùng chứa vũ khí. Hà Nội lập tức tiến hành điều tra và cuối cùng, mười gián điệp của Quốc Dân Đảng bị bắt và đưa ra xét xử một năm sau đó. Hai trong số này bị xử tử, số còn lại bị phạt tù.

Điều kỳ lạ là không có một lời nào nhắc tới số phận của mười một người khác trong mạng lưới nhóm Hao. Cho đến tận năm 1977, câu trả lời cho vấn đề trên mới được hé mở, qua phát biểu của Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong một hội nghị bí mật ở Hà Nội. Khi nói về vấn đề điều tra các đối tượng chính trị, ông Bộ trưởng có lỡ mồm đề cập một mạng lưới nằm vùng hoạt động cho đến tận giữa những năm 1970:

Năm 1974, Bộ đã triển khai đặc vụ để bắt liên lạc (với các điệp viên nằm vùng), thông qua sử dụng mật khẩu và dấu hiệu nhận biết để bắt liên lạc. Ngay lập tức, họ đã liên lạc được với nhau”.

Hai thập kỷ sau kế hoạch đầy tham vọng mà Phái đoàn Quân sự Sài Gòn triển khai nhằm do thám Bắc Việt Nam, mọi việc đã chấm dứt. Đã không còn ngựa thành Troia nào nữa.

——————-

Dương Văn Đoàn dịch (bài đăng trên Tạp chí Phương Đông số tháng 1-2021)

Lịch sử Việt Nam

Ngô Đình Nhu, phi vụ Maneli 1963, và cuộc “đi đêm” giữa Sài Gòn và Hà Nội

Những cuốn sách và những bài báo đề cập đến các sự kiện năm 1963 thường rải rác nói tới những cuộc tiếp xúc bí mật giữa hai chính quyền Sài Gòn và Hà Nội.
35

Thực hư cuộc “đi đêm” này ra sao, tiếp xúc tới mức nào, ý đồ của các bên hữu quan là gì? Các cuộc tiếp xúc có tác động tới diễn biến tình hình hay không? Đó là những câu hỏi mà bài này tìm cách trả lời bằng cách đối sánh các chứng từ với nhau, và đối sánh chúng với những hồ sơ lưu trữ một phần đã được giải mật trong những năm qua.

Những huyền thoại

Để phân biệt thực hư, trước hết hãy thanh lí một số huyền thoại có tính chất hư cấu.

Trước hết là một cuộc gặp giữa ông Ngô Đình Nhu và ông Phạm Hùng (uỷ viên Bộ chính trị Đảng Lao động Việt Nam, phó thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) năm 1963. Một nhà sử học (1) đã khẳng định có cuộc gặp này và viện dẫn hồi kí của William Colby. Ông trùm CIA viết gì trong hồi kí?

Mấy năm về sau, tôi nghe kể từ một tướng lĩnh cao cấp Nam Việt Nam, một người lãnh đạo cuộc đảo chính chống Diệm và Nhu (…). Viên tướng này khoe đã nghe nói rằng, tuy ông ta không chứng kiến trực tiếp, đúng là năm 1963 Nhu đã gặp Phạm Hùng, người lãnh đạo nỗ lực Cộng sản ở miền Nam” (2).

Ngô Đình Nhu
Ngô Đình Nhu

W. Colby là giám đốc Cục tình báo CIA từ 1973 tới 1976. Ở thời điểm 1963, ông ta làm vụ trưởng Vụ Viễn Đông của CIA sau 3 năm liền làm thủ trưởng chi nhánh CIA ở Việt Nam (1959-62). Năm 1968, Colby trở lại Việt Nam với hàm đại sứ, cố vấn bên cạnh tướng Westmoreland, cho tới năm 1971.

Tóm lại, Colby là một tay trùm tình báo lão luyện, có hơn 10 năm kinh nghiệm về Việt Nam, có khả năng và quyền tham khảo các hồ sơ lưu trữ của CIA. Vậy mà, một cuộc gặp giữa hai nhân vật hàng đầu của chế độ Việt Nam cộng hoà và chế độ Việt Nam dân chủ cộng hoà, ông ta chỉ “nghe” một người “nói” là “đã nghe nói“.

Cũng phải nói thêm, Colby kể lại cuộc gặp này với mục đích nhét vào miệng ông Phạm Hùng một câu khâm phục ấp chiến lược để kết thúc chương sách nói về kế hoạch này (kế hoạch mà Ngô Đình Nhu coi là “quốc sách“, và Colby khiêm tốn khoe chính ông ta mới là cha đẻ của nó). Ông trùm tình báo cũng đủ tinh khôn để viết thêm một câu thận trọng “Giai thoại này có thể là chuyện bịa“.

Không biết Colby muốn nói ông tướng “bịa” ra cuộc gặp, hay chính ông đã “bịa” ra ông tướng. Nhưng bịa là cái chắc. Bịa tồi nữa kia năm 1963, người lãnh đạo Trung ương cục miền Nam là ông Nguyễn Văn Linh, tiếp theo (từ 1964 đến 1967) là ông Nguyễn Chí Thanh, sau khi tướng Thanh từ trần, ông Phạm Hùng mới vào Nam đảm nhiệm chức vụ này.

Một huyền thoại nữa là cuộc đảo chính ngày 1.11.1963 nhằm ngăn chặn một sự thoả hiệp giữa chính quyền Diệm – Nhu và đối phương. Một trong những người khẳng định dứt khoát điều này là tướng Đỗ Mậu (trước đảo chính là đại tá, phụ trách an ninh quân đội) “âm mưu thoả hiệp với chính quyền CS Hà Nội của chế độ Diệm là một trong những động cơ quan trọng, nếu không nói là động cơ quan trọng nhất, thúc đẩy quân đội cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc cách mạng 1-11-63 để ngăn chận và trừng phạt dòng họ Ngô Đình dâng miền Nam cho Cộng Sản” (3).

Đây là một câu văn đậm đà tính chất tuyên ngôn (cách mạng, quân đội cùng với toàn dân…) không mấy quan tâm tới sự thật lịch sử. Nó cũng tương tự như tuyên bố của tướng Tôn Thất Đính, bộ trưởng nội vụ, mấy ngày sau cuộc đảo chính. Chỉ cần đưa ra vài nhận xét:

* Tác giả không nằm trong hạt nhân đầu tiên của cuộc đảo chính (gồm các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim). Còn Tôn Thất Đính, người được Diệm cử làm tổng trấn Sài Gòn, mãi tới những ngày chót mới tham gia đảo chính sau khi bị “khích tướng” (không được tổng thống cử làm bộ trưởng nội vụ và được nhóm đảo chính hứa hẹn).

* Trong các cuộc tiếp xúc của ba tướng này với người của CIA (Lucien Conein, Rufus Phillips…) được đại sứ Cabot Lodge uỷ nhiệm để xúc tiến đảo chính (từ tháng 7 đến ngày 1.11.1963), mục tiêu ngăn chận chính quyền Diệm – Nhu “thoả hiệp với Cộng sản” không hề được bên nào nêu ra (4).

* Người duy nhất nêu vấn đề này lên là tướng Nguyễn Khánh (tư lệnh Quân khu II) trong cuộc gặp nhân viên CIA ở Pleiku ngày 26.8.1963 để thoái thác hành động, “còn chờ động thái của Nhu đối với Hà Nội” (5). Hai tháng sau, Nguyễn Khánh tham gia cuộc đảo chính mà không đả động gì tới “động thái của Nhu” nữa.

Phải đợi đến cuối tháng giêng năm 1964, nghĩa là 3 tháng sau cuộc đảo chính thành công, Nguyễn Khánh mới đưa tin Mai Hữu Xuân và nhóm “trung lập thân Pháp” chuẩn bị đảo chính để xin Mĩ bật đèn xanh cho chính ông ta lật nhóm Dương Văn Minh (6). Như vậy, có thể giả định có căn cứ rằng câu chuyện “lá bài trung lập“, điều đình với “cộng sản” đối với tướng Khánh chỉ là cách nói để vừa lòng Mĩ.

* quan trọng hơn cả, hồ sơ lưu trữ của Nhà Trắng và Bộ ngoại giao Mĩ đều cho thấy khả năng chính quyền Diệm – Nhu “thương lượng bí mật với Hà Nội” tuy một hai lần được nêu lên trong các dự thảo kế hoạch phòng hờ, nhưng không bao giờ được coi là hiện thực và không hề là nhân tố (dù là thứ yếu) được nêu lên trong các cuộc thảo luận quyết định đảo chính kéo dài suốt ba tháng 8-9-10 năm 1963.

Lửa và khói

Như vậy là câu chuyện ông Ngô Đình Nhu tiếp xúc trực tiếp và bí mật với “phía bên kia” cũng như câu chuyện chính quyền Diệm-Nhu muốn bắt tay với miền Bắc để đòi Mĩ rút đi (hoặc rút bớt) chỉ là những huyền thoại được tạo dựng sau đó nhiều tháng và nhiều năm, với những mục đích khác nhau, nhưng cũng dễ lí giải.

Tuy nhiên, tục ngữ Việt Nam có câu không có lửa sao có khói. Thế mà, từ đầu năm 1963, và nhất là trong suốt mấy tháng hè, Sài Gòn và đặc biệt giới ngoại giao ở Sài Gòn xôn xao những lời đồn và những “tin mật” về các cuộc tiếp xúc qua trung gian của đại sứ Pháp Roger Lalouette, khâm mạng Toà Thánh Vatican Salvatore d’Asta, đại sứ ấn Độ Ram Godurdhun, chủ tịch Uỷ hội quốc tế (cơ quan do Hiệp định Genève 1954 đặt ra) và nhất là Mieczyslaw Maneli, đại sứ trưởng đoàn Ba Lan trong Uỷ hội.

Đại sứ Ba Lan Maneli
Đại sứ Ba Lan Maneli

Chưa ai khai thác hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Ấn Độ để biết đại sứ Ram Godurdhun cụ thể đã làm gì. Qua các công trình nghiên cứu đã xuất bản cho đến nay, dường như sự đóng góp của ông tóm gọn vào hai việc

* cùng với đại sứ Pháp Lalouette thúc đẩy ông Ngô Đình Nhu liên lạc với chính quyền miền Bắc, và đề nghị đại sứ Ba Lan (một nước xã hội chủ nghĩa) đóng vai trung gian (dưới đây sẽ nói về vai trò này).

* kể lại rằng trong một cuộc tiếp kiến, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với ông ta về ông Ngô Đình Diệm (bằng tiếng Pháp) “Il est, à sa manière, un patriote” (Ông ấy yêu nước theo kiểu của ông ta) – (dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích thái độ của miền Bắc).

Vai trò của khâm mạng d’Asta dường như cũng không đi xa hơn việc “biên đạo” cho cái bắt tay giữa Ngô Đình Nhu và Maneli trong cuộc chiêu đãi chiều ngày 25.8.1963 của quyền ngoại trưởng Trương Công Cừu (thay thế Vũ Văn Mẫu từ chức sau cuộc tấn công chùa chiền của các Lực lượng đặc biệt đêm 20.8). Đại sứ của Vatican còn phải tập trung vào việc điệu tổng giám mục Ngô Đình Thục về Roma và làm những động tác cần thiết để dư luận không (hay bớt) đồng hoá Giáo hội Roma với “chế độ Công giáo gia đình trị đàn áp Phật giáo“.

Ồn ào và kì lạ hơn cả là Roger Lalouette, đại sứ Pháp ở Sài Gòn. Như đã nói ở trên, Lalouette đã thúc đẩy đồng sự Ba Lan đặt vấn đề với Hà Nội và khuyến khích Ngô Đình tiếp Maneli. Việc này đòi hỏi sự kín đáo tối thiểu, nhất là ở thời điểm mà dư luận rất chú ý tới tuyên bố của tướng De Gaulle. Tổng thống Pháp long trọng yêu cầu “nước ngoài” chấm dứt can thiệp quân sự ở Việt Nam, mọi giải pháp phải dựa trên các nguyên tắc độc lập, thống nhất và “trung lập“.

Nói De Gaulle là nói “ma lực của ngôn từ“. Và khi lời nói không có lá bài tương xứng thì “ma lực” chỉ có thể xuất hiện khi ở trên chiếu bạc, các tay chơi đã cạn túi hoặc muốn đổi luật chơi. Ở Việt Nam năm 1963, tình huống đó chưa xảy ra. Nên tuyến bố ngày 29.8 của lão tướng chỉ nhằm “prendre date” (đánh dấu thời điểm). Ngày hôm sau, Alphand, đại sứ Pháp ở Washington, thừa nhận Pháp trước mắt “không có giải pháp nào” để đề nghị cả (7).

Hồ sơ lưu trữ của Bộ ngoại giao Pháp cho thấy các “hoạt động môi giới” của đại sứ Pháp dường như đều là những “sáng kiến cá nhân” không xin phép, thậm chí không báo cáo (thí dụ như việc ông đã tự tiện đưa đồng liêu của mình là Tổng đại diện Pháp ở Hà Nội (ghé Sài Gòn nghỉ hè) tới gặp ngoại trưởng Trương Công Cừu). Lại ồn ào nữa (một loạt bài báo Mĩ nói tới vai trò “môi giới trung lập hoá” của ông xuất hiện đầu tháng 9.63), nên ngày 10.9, Lalouette bị ngoại trưởng Couve de Murville triệu về Pháp (8).

Vai trò trung gian giữa chính quyền hai miền rốt cuộc chỉ còn một mối đại sứ Ba Lan Maneli. May thay cho các nhà sử học, Maneli là một nhà luật học, được chính quyền Ba Lan cử vào Uỷ hội quốc tế với tư cách một luật gia chứ không phải là với tư cách cán bộ chính trị hay ngoại giao. Sau hai nhiệm kì ở Việt Nam, ông trở lại giảng dạy ở Trường đại học Warzsaw. Vì những bài giảng và bài viết không “đúng lập trường xã hội chủ nghĩa” ông bị cách chức rồi di cư sang Mĩ dạy học ở Queens College (New York).

Cho nên, Maneli không phải là một người “vượt màn sắt chọn tự do“, viết sách vì “căm thù cộng sản từ trong máu” hay/và làm vừa lòng Mĩ. Chứng từ của ông (9) do đó là một tài liệu đáng tin cậy, ít nhất là đáng tin cậy như một chứng từ trung thực (và cũng như mọi chứng từ trung thực, nó cần được kiểm chứng).

Maneli cho biết trong một cuộc gặp thủ tướng Phạm Văn Đồng và bộ trưởng ngoại giao Xuân Thuỷ (đầu tháng 7.63) “Tôi hỏi nên làm gì nếu Ngô Đình Nhu mời tới nói chuyện. Họ trả lời ngay lập tức nhận gặp và lắng nghe. Tôi lại hỏi họ có muốn tôi nói gì (với Nhu). Họ trả lời ‘Tất cả những gì đồng chí biết về lập trường của chúng tôi trong sự trao đổi và hợp tác kinh tế và văn hoá (giữa hai miền). Một điều chắc chắc là Mĩ phải rút đi. Trên cơ sở chính trị ấy, chúng tôi có thể thương lượng bất cứ điều gì’“.

Maneli hỏi thêm về khả năng một chính phủ liên hiệp ở miền Nam hay một hình thức liên bang Bắc Nam, ông Đồng trả lời (có mặt chủ tịch Hồ Chí Minh) “Trên cơ sở độc lập và chủ quyền của Việt Nam, mọi điều đều có thể thương lượng. Hiệp định Genève đã đặt ra nền tảng pháp lí và chính trị không có căn cứ hay quân đội nước ngoài trên lãnh thổ đất nước chúng tôi. Như thế, chúng tôi có thể đi tới thoả thuận với bất luận người Việt Nam nào” (10).

Trở vào Sài Gòn, Maneli đợi Lalouette và d’Asta sắp xếp cuộc gặp Ngô Đình Nhu. Như đã nói trên, họ bắt tay nhau lần đầu trong cuộc chiêu đãi ngày 25.8 (ngày hôm đó, sinh viên Sài Gòn xuống đường phản đối cuộc tấn công chùa chiền 20.8, Cabot Lodge xuất hiện tại cuộc chiêu đãi nhưng chưa chính thức là đại sứ vì chưa trình quốc thư; tin đồn sẽ có đảo chính ngày 1 hay 2.9).

Ngày 2.9 (Quốc khánh Việt Nam dân chủ cộng hoà !), Ngô Đình Nhu tiếp riêng Maneli tại văn phòng ở dinh Gia Long. Như các cuộc hội kiến khác của anh em Diệm – Nhu với bất luận người nước nào, phần lớn thời giờ dành cho lời độc thoại tràng giang đại hải. Ông Nhu nói những gì, phần dưới sẽ nói tới, nhưng riêng về vấn đề hiệp thương, thì theo chứng từ của đại sứ Ba Lan, ông ta chỉ vỏn vẹn hai ý:

1. “Tôi không phản đối đàm phán và hợp tác với miền Bắc, và như ông biết, nhiều nhà ngoại giao phương Tây đã đề nghị với tôi. Ngay trong những trận giao tranh tàn ác nhất, người Việt Nam cũng không quên ai là người Việt, ai là ngoại quốc. Nếu có bắt đầu đối thoại trực tiếp, thì có thể tiến tới xích lại gần. Và Uỷ hội quốc tế – cũng như bản thân ông – sẽ có thể đóng vai trò tích cực ở đây“,

2. “Trong tương lai gần, tôi không dự liệu điều gì có thể dẫn tới nói chuyện trực tiếp, nhưng sớm muộn có thể sẽ hé ra khả năng” (11).

Vỏn vẹn có thế thôi, và đó là lần cuối cùng đại sứ Ba Lan gặp Ngô Đình Nhu. Xin nhắc lại, đó là ngày 2.9.1963. Nghĩa là N-60 đúng 2 tháng sau, anh em ông Diệm và ông Nhu bị bắn và đâm chết trong chiếc xe thiết giáp M.113. Sự thật, số phận của họ đã được định đoạt gần mười ngày trước đó, trong bức điện mang số 243 (ngày 24.8.63) của Bộ ngoại giao Mĩ gửi Sứ quán ở Sài Gòn (xem một bài sau).

Nhìn từ Hà Nội

Tiếc rằng hồ sơ lưu trữ về năm 1963 ở Hà Nội vẫn chưa được mở ra cho các nhà nghiên cứu (một thủ đô đồng bệnh bí mật nữa là Vatican). Tập Thư vào Nam của ông Lê Duẩn tập hợp những lá thư của bí thư thứ nhất Đảng cộng sản VN gửi Trung ương cục Miền Nam trong thời gian 1961-1975, là một cứ liệu quý báu, nhưng có một lỗ hổng lớn 1963-1964.

Các tài liệu mật của Trung ương cục mà Mĩ bắt được và bắt đầu công bố chủ yếu cũng chỉ đề cập tới đấu tranh vũ trang và chính trị, nhưng không nói gì tới các cuộc tiếp xúc (gián tiếp hay trực tiếp). Báo cáo của CIA cho biết nhiều lần Ngô Đình Nhu khoe có liên lạc với tướng này tướng nọ của Quân giải phóng, nhưng rõ ràng là bịa đặt để “trộ” CIA (và trộ không thành).

Tuy nhiên, lá thư của ông Lê Duẩn gửi ông Nguyễn Văn Linh tháng 7.1962 (ngay sau Hiệp định về chính phủ liên hiệp ở Lào), đối chiếu với những tuyên bố chính thức, cho phép ta hình dung ra những nét lớn trong nhận định và chủ trương của lãnh đạo ĐCS

Trong quá trình phát triển của chiến tranh, nếu đánh lâu dài mà không thể thắng được ta, thì đến một lúc nào đó, có khả năng Mỹ phải thay Diệm hoặc buộc phải thương lượng với ta và chấp nhận chính phủ liên hiệp. Nhằm chủ động đón khả năng đó, ta nên liên hệ với những nhân sĩ tiến bộ có uy tín, có cảm tình với cách mạng, nhưng chưa bị lộ với địch, để sử dụng vào việc đấu tranh lập chính phủ nhiều thành phần sau này (Phải thuyết phục họ tìm cách bề ngoài có quan hệ với Mĩ, nhưng phải hết sức giữ bí mật cho họ vì có thể họ sợ quan hệ với Mĩ sẽ mất uy tín, và bị ta hiểu lầm)” (12).

Rõ ràng là sau hội nghị Genève về Lào (1962), ĐCS coi chính phủ liên hiệp là khả năng tối ưu cho một giải pháp ở miền Nam, mặc dầu không thể coi giải pháp Lào là một “mô hình

Tình hình miền Nam nước ta có khác với Lào. Vấn đề đặt ra ở đây là phải hạn chế sự can thiệp ngày càng tăng của đế quốc Mĩ, là không cho địch biến ‘chiến tranh đặc biệt’ thành ‘chiến tranh cục bộ’, mở rộng chiến tranh ra cả nước, và ta phải biết thắng địch trong ‘chiến tranh đặc biệt’, trong phạm vi miền Nam” (sđd, tr 62).

Hồ sơ lưu trữ của Bộ chính trị ĐCSVN chắc sẽ mang lại nhiều tình tiết thú vị, bất ngờ. Nhưng về cơ bản, ngay từ bây giờ, có thể nhận định không mấy sai lầm là, năm 1963:

* Lãnh đạo ĐCSVN muốn hạn chế mức tham chiến của Mĩ và mong muốn đi tới giải pháp chính phủ liên hiệp

* Nắm mọi vận hội đàm phán với chính quyền Ngô Đình Diệm trong chiều hướng ấy, hay ít nhất, làm tất cả để khoét sâu những mâu thuẫn giữa chính quyền này (hay chính quyền nào thay thế nó) và chính quyền Mĩ.

Nhìn từ Washington

Lúc đó, và bây giờ càng thấy rõ hơn chính quyền Kennedy (mặc dầu đã có những đề nghị của thượng nghị sĩ Mike Mansfield, đại sứ Mĩ ở New Delhi Charles Bohlen… ) và sau ngày 1.11.63, chính quyền Johnson, tuy không thống nhất về mức độ tham chiến, hoàn toàn nhất trí trong quyết tâm “chiến thắng” (Win the War). Đối với họ, một giải pháp “chính phủ liên hiệp” (mặc dầu Kennedy đã phải chấp nhận ở Lào) chỉ là “đầu hàng cộng sản” một cách trá hình. Cái ý chí ấy, phải tới năm 1968 mới bị bẻ gãy.

Năm 1963, ý chí “Counter Insurgency” (đập tan chiến tranh giải phóng) còn nguyên vẹn. Và nguyên vẹn là niềm tin vào những báo cáo thắng lợi quân sự, kế hoạch ấp chiến lược thành công của tướng Harkins và Bộ chỉ huy Mỹ gửi về Washington (phải đến tháng 12.1963, Nhà Trắng mới bắt đầu hiểu ra rằng ấp chiến lược đã sụp từng mảng lớn, rằng tình hình quân sự đã “xấu đi nghiêm trọng” không phải từ cuộc đảo chính 1.11, hay từ mùa hè, mà từ đầu năm 1963, cụ thể là từ trận ấp Bắc (2.1.1963) (13).

Nhìn từ Dinh Gia Long

Cái nhìn về tình hình, Nhà Trắng hoang tưởng một, thì dinh Gia Long hoang tưởng mười. Nhà báo chủ chiến tới cùng, người ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm tới giờ chót, là Jo Alsop, tới Sài Gòn đầu tháng 9.63 với mục đích “giải độc dư luận Mĩ về vụ Phật giáo và những thông tin bi quan về quân sự” đã không tin nổi tai mình khi nghe ông Nhu “nói toạc rằng mình mới là ông chủ thực sự của chính phủ Việt Nam trong khi ông ta không còn nhận thức gì được nữa về cái thế giới ở bên ngoài Dinh Gia Long“, và càng tá hoả hơn khi ngồi nghe ông Diệm độc thoại (14).

Cả ngày chủ nhật 27.10.1963, Ngô Đình Diệm mời đại sứ Henry Cabot Lodge đi kinh lý và chuyện trò. Hôm sau (ảnh trên) họ khánh thành Lò nguyên tử Đà Lạt. Bốn ngày sau, nổ ra cuộc đảo chính. Sự thật, số phận của anh em họ Ngô đã được quyết định trong một chỉ thị Washington gửi Cabot Lodge từ ngày 24.8.1963.
Cả ngày chủ nhật 27.10.1963, Ngô Đình Diệm mời đại sứ Henry Cabot Lodge đi kinh lý và chuyện trò. Hôm sau (ảnh trên) họ khánh thành Lò nguyên tử Đà Lạt. Bốn ngày sau, nổ ra cuộc đảo chính. Sự thật, số phận của anh em họ Ngô đã được quyết định trong một chỉ thị Washington gửi Cabot Lodge từ ngày 24.8.1963.

Ta hãy nghe ông Ngô Đình Nhu độc thoại trước mặt đại sứ Ba Lan Maneli trong cuộc gặp ngày 2.9.1963

Tôi tiến hành một cuộc chiến tranh mà mục đích là chấm dứt chiến tranh một cách vĩnh hằng ; tôi chiến đấu chống Cộng sản thực sự là để kết liễu chủ nghĩa tư bản duy vật. Tạm thời tôi buộc phải hạn chế tự do để rồi mang lại tự do dưới dạng thức vô hạn của nó. Tôi củng cố kỉ luật cũng là để đi tới mục tiêu bãi bỏ những ràng buộc bên ngoài của nó. Tôi tập trung hoá Nhà nước là để dân chủ hoá và giải tập trung Nhà nước. Ông thấy đó, tôi là môn sinh của Hegel về biện chứng pháp“.

Người Mĩ và Việt cộng tưởng đâu rằng ấp chiến lược chỉ đơn thuần là những cơ cấu quân sự, chiến thắng rồi, không cần nữa, sẽ dẹp đi. Cả Mĩ lẫn Việt cộng đều nhầm cả vì họ đi từ những tiền đề duy vật chủ nghĩa. ấp chiến lược là định chế cơ bản của nền dân chủ trực tiếp. Một khi phát triển và đơm hoa kết trái rồi, ấp chiến lược sẽ là những hạt nhân thực thụ của tổ chức quốc gia, còn Nhà nước thì, như Marx nói, sẽ tiêu vong“.

Cố nhiên, cũng như nhà báo Mĩ Alsop, ông đại sứ Ba Lan Maneli “không tin nổi tai mình“, sợ mình nghe lầm, hay là ông “đặc cố” lỡ miệng dùng ngôn ngữ mác-xít. Thấy người đối diện trố mắt ngạc nhiên, Ngô Đình Nhu phải nhắc lại, nhấn mạnh hơn

Đúng như vậy đó. Tôi đồng ý với kết luận cuối cùng của Marx Nhà nước phải tiêu vong – đó là điều kiện cho sự toàn thắng tối hậu của dân chủ. Lẽ sống của tôi là làm sao để tôi trở thành không cần thiết nữa” (15).

Mọi bình luận về lời trường thiên độc thoại trong bầu không khí siêu thực ấy lại càng thừa. Có cần thêm, là một thông tin ngay chiều hôm đó, Ngô Đình Nhu thông báo cho Mĩ về cuộc gặp Maneli. Cũng như ông là người tung ra tin đồn, hôm nay là “thương lượng bí mật với Bắc Việt“, mai là “điều quan trọng là tách Việt cộng khỏi ảnh hưởng Bắc Việt“. Bộ trưởng Phủ tổng thống Nguyễn Đình Thuần thố lộ với sứ quán Mĩ là Nhu hút thuốc phiện. Sau này, tướng Trần Văn Đôn phủ nhận.

Không biết ai đúng, chỉ biết chắc là ông Nhu say sưa với những chiến thắng tưởng tượng vừa bày ra những mưu ma chước quỷ để hù mấy ông tướng đang rục rịch đảo chính và làm săng ta với Mĩ bằng câu chuyện “đi đêm” với Hà Nội. Đi đêm thì có ngày gặp ma. Không đi đêm mà mộng du thì có ngày thành ma. Đó là ngày 2.11.1963. Sau đó ít hôm, Cabot Lodge nói với nhà báo David Halberstam “Nếu hai anh em nhà ấy còn sống, thì ta sẽ kẹt chứ ? Bất cứ thằng cha căng chú kiết phản động nào trên thế giới cũng sẽ mang ra xài để phá ta” (16).

Nguyễn Ngọc Giao

——————————–

(1) Vũ Ngự Chiêu, Tướng Dương Văn Minh và Đệ Nhất Cộng Hoà

(2) William Colby, The Lost Victory, Contemporary Books, Chicago, 1989, tr. 102-103

(3) Hoành – Linh Đỗ Mậu, Việt Nam Máu lửa quê hương tôi, Tác giả xuất bản, Hoa Kỳ, 1987, trang 665.

(4) Hồ sơ lưu trữ Bộ ngoại giao Mĩ : Foreign Relations, 1961-1963, Volume III, Vietnam, January-August 1963

(5) FOREIGN RELATIONS OF THE UNITED STATES, 1961–1963, VOLUME IV, VIETNAM, AUGUST–DECEMBER 1963. Tài liệu số 294

(6) Điện của chi nhánh CIA Sài Gòn gửi CIA trung ương ngày 28.1.1964

(7) Bị vong lục về cuộc gặp giữa quyền ngoại trưởng Ball và Alphand, đại sứ Pháp tại Washington, 30.8.1963. Tài liệu số 28

Của đáng tội, mùa xuân 1963, chính phủ Pháp cũng đã kín đáo chuẩn bị lá bài Trần Văn Hữu và để tiện bề tranh thủ một số nhân sĩ Việt Nam ở Pháp, đã trục xuất (không công bố) bác sĩ Nguyễn Khắc Viện. Những hồ sơ lưu trữ đã được giải mật của Phủ tổng thống và Bộ ngoại giao cho thấy một vài động tác, nhưng xem ra cũng thuộc loại “lực bất tòng tâm“.

(8) Ellen J. Hammer, A Death in November / America in Vietnam, 1963, E. P. Dutton, New York, 1987, tr. 232. Không nên dùng bản dịch Việt ngữ xuất bản tại Mĩ, sai và thiếu nhiều.

(9) Mieczyslaw MANELI, War of the Vanquished, translated from the Polish by Maria de Gửrgey, Harper & Row, New York, 1971

(10) Báo cáo ngày 10.7.63 gửi về Bộ ngoại giao Ba Lan và Sứ quán Liên Xô ở Hà Nội, sđd. tr. 127-128.

(11) sđd, tr. 146.

(12) Lê Duẩn, Thư vào Nam, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr.65

(13) FOREIGN RELATIONS OF THE UNITED STATES, 1961–1963, VOLUME IV, VIETNAM, AUGUST–DECEMBER 1963. Tài liệu số 343

(14) Joseph Alsop, In the Gia Long Palace, báo New York Herald Tribune, September 20, 1963 (in lại trong cuốn Reporting Vietnam, Part One, The Library of America, 1998, tr. 92).

(15) Maneli, sđd, tr. 145-146.

(16) Neil Sheehan, L’innocence perdue, Seuil, Paris, 1990, tr. 312 (nguyên tác tiếng Mĩ : A Bright Shining Lie, Random House Inc., New York, 1988).

Lịch sử Việt Nam

Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

Bài viết dưới đây sẽ giải thích rõ ràng, cặn kẽ về việc chính quyền VNCH có phải là chính quyền của chính nhân dân miền Nam Việt Nam lập nên hay không?
10

Trước tiên, nếu nói về VNCH ta phải chia ra làm 2 thời kỳ, đó là Đệ nhất Cộng hòa và Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam:

Ta sẽ phân tích mỗi thời kỳ của VNCH để đánh giá việc chính quyền này có phải là chính quyền của nhân dân Miền Nam hay không?

Nền Đệ Nhất Cộng hòa (1955-1963)

Đây là chính phủ của Việt Nam Cộng hòa được thành lập sau cuộc Trưng cầu dân ý năm 1955 ở miền Nam Việt Nam.

Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 diễn ra với kết quả thắng cử gần như tuyệt đối thuộc về Ngô Đình Diệm với 98,2% phiếu bầu ủng hộ Thủ tướng Diệm lên thay cựu hoàng Bảo Đại trong vai trò Nguyên thủ Quốc gia.

Lại nói về cuộc trưng cầu này thì về phía Diệm, các cơ quan truyền thông do Diệm (lúc bấy giờ là thủ tướng QGVN) điều khiển cũng bắt đầu vận động dân chúng sửa soạn đi bầu với những bài chỉ trích hành vi của Quốc trưởng và phổ biến những câu nhắc nhở cử tri như: “Phiếu đỏ ta bỏ vô bì, Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi”. Mỗi cử tri được phát 2 lá phiếu gồm 1 phiếu màu xanh và 1 phiếu màu đỏ.

Lá phiếu màu đỏ in hình Ngô Đình Diệm với câu: “Tôi bằng lòng truất phế Bảo Đại và nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ”.

Lá phiếu xanh in hình cựu hoàng Bảo Đại thì có câu: “Tôi không bằng lòng truất phế Bảo Đại và không nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ”.

Bích chương về kết quả cuộc trưng cầu dân ý tại Tòa Đô chính Sài Gòn
Bích chương về kết quả cuộc trưng cầu dân ý tại Tòa Đô chính Sài Gòn. (Ảnh Wikipedia)

Cử tri phải chọn lấy một và bỏ phiếu vào thùng phiếu. Lá phiếu kia thì vứt đi. Kết quả là số phiếu đồng ý phế truất Bảo Đại là 5.721.735 phiếu, phiếu chống việc phế truất là 63.017 phiếu và số phiếu hỏng là 44.105 phiếu.

Về phía Mỹ thì Mỹ luôn luôn hậu thuẫn và tích cực ủng hộ Diệm trước, trong và sau cuộc “trưng cầu dân ý”, ra sức chèn ép hất cẳng Pháp và phế truất Bảo Đại, tích cực đưa miền Nam Việt Nam vào khối SEATO. Mặt khác, Mỹ tiếp tục gây khó dễ cho việc thi hành Hiệp Định Geneva ở Lào gây nên một tình hình nghiêm trọng ở đây.

Ngô Đình Diệm gặp mặt phó tổng thống Mỹ Johnson tại Dinh Gia Long năm 1961
Ngô Đình Diệm gặp mặt phó tổng thống Mỹ Johnson tại Dinh Gia Long năm 1961. (Ảnh gettyimages)

Vậy chính quyền đệ nhất cộng hòa có phải là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam Việt Nam?

CHẮC CHẮN là KHÔNG, vì sao ư? Vì chính quyền Ngô Đình Diệm được Mỹ lựa chọn, nâng đỡ(gian lận trong bầu cử) từ A-Z để tồn tại và phát triển chứ không hề được đại đa số nhân dân Miền Nam ủng hộ và bầu cho. Dẫn chứng cụ thể nhất ở đây là khi tiến hành trưng cầu dân ý ở Sài Gòn thì Ngô Đình Diệm chiếm được 605.025 lá phiếu ủng hộ trong khi khu vực này chỉ có 450.000 cử tri ghi tên.

Chính cố vấn của Ngô Đình Diệm, đại tá CIA Edward Lansdale đã từng nói rằng : “Trong lúc tôi đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin rằng ông thắng 99,99%. Vì nếu như thế thì biết đó là âm mưu sắp đặt trước”. Vì thế cho nên Diệm đắc cử với 98,2%.Trong cuốn sách CIA and the house of Ngo của sử gia Thomas L. Ahern Jr đã nói rõ việc Mỹ (rõ hơn là CIA) đã thao túng cuộc bầu cử để lập nên chính quyền Ngô Đình Diệm và cả bộ máy chính quyền của y.

Cố vấn của Ngô Đình Diệm,đại tá CIA Edward Lansdale
Cố vấn của Ngô Đình Diệm,đại tá CIA Edward Lansdale
Cuốn sách kiêm tài liệu CIA mang tên
Cuốn sách kiêm tài liệu CIA mang tên “CIA and the house of Ngo” của sử gia Thomas L. Ahern Jr

Biết rõ việc gian lận trong chiến dịch  tranh cử của Diệm, nhân dân miền Nam đã tẩy chay cuộc “trưng cầu dân ý”, các giáo phái (Cao Đài, Hoà Hảo,…), các đảng phái (Bình Xuyên, Đảng Dân chủ, nhóm trí thức Nguyễn Phan Long ở Sài Gòn, phe Bảo Đại ở Pháp) đều lên tiếng chống lại, ngay những nhóm dân chủ khác (như Đại Việt, Đảng Cộng hoà của Phan Huy Đán) vì tranh nhau quyền lợi và địa vị cũng chống cuộc “trưng cầu dân ý” của Diệm; dư luận một số báo chí ở các nước vạch rõ sự gian lận thô bỉ trong cuộc “trưng cầu dân ý”; nhưng Diệm vẫn tuyên bố “thắng lợi”, tự tôn lên làm Tổng thống, tập trung mọi quyền bính trong tay, tiếp tục kế hoạch hợp pháp hoá chế độ độc tài gia đình trị của mình.

Hậu quả của việc đó thì chắc hẳn ai cũng đã biết,nhân dân Miền Nam phối hợp với sự chi viện của miền Bắc đã tiến hành hàng loạt các cuộc đấu tranh chính trị, vũ trang nhằm chống lại chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm. Cái kết là đến năm 1963, dưới áp lực quá lớn từ đại đa số nhân dân Miền Nam (từ nông dân cho đến tăng ni,giáo dân,…) và dư luận quốc tế thì Mỹ (CIA) đã giật dây cho các tướng lĩnh VNCH tổ chức đảo chính và ám sát anh em nhà Ngô Đình, kết thúc chế độ độc tài gia đình trị Đệ Nhất Cộng hòa.

Nền Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam (1967-1975)

Đây là chính thể dân sự của Việt Nam Cộng hòa thành lập trên cơ sở của bản Hiến pháp tháng 4 năm 1967 và cuộc bầu cử tháng 9 năm 1967. Ngày 1 tháng 11 năm 1967 được xem là ngày chính thức thành lập nền Đệ nhị Cộng hòa.

Sau 4 năm bất ổn triền miên sau cuộc đảo chính 1963(Việt Nam Cộng hòa đã liên tục trải qua hơn 10 cuộc đảo chính, 4 chính phủ lần lượt dựng lên rồi sụp đổ: Chính phủ Nguyễn Khánh, Chính phủ Trần Văn Hương, Chính phủ Phan Huy Quát, Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ) thì cuộc tổng tuyển cử ngày 3 tháng 9 và 22 tháng 10 năm 1967 dưới Hiến pháp mới của Việt Nam Cộng hòa, Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam chính thức được thành lập.

Để cho đỡ tốn thời gian của các bạn thì câu trả lời cho việc Đệ Nhị Cộng hòa có phải là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam hay không. Lí giải cho việc này là khi tiến hành tổng tuyển cử thì vào tháng 7/1967 Nguyễn Cao Kỳ đã nhận của Mỹ 5 triệu đồng để tổ chức một mặt trận tôn giáo và chính trị ủng hộ liên danh quân nhân. Thậm chí CIA đã đề nghị cảnh sát công an “vận động” phiếu cho Thiệu – Kỳ (Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ) nhưng cái oái oăm ở chỗ chỉ có 35% phiếu bầu cho Thiệu – Kỳ (đủ để vượt qua các ứng cử viên khác) dù số tiền đã chi có thể mang tới số phiếu bầu nhiều hơn 45%.

Lí giải cho việc này thì 1 phần(hoặc đa phần,không ai biết rõ bao nhiêu cả) đã bị ăn bớt thay vì đem đi vận động như đã bàn bạc vs phía CIA. Lúc bấy giờ Bộ Ngoại giao Mỹ đồng ý chi 3.000 USD (khoảng 20.000 USD theo thời giá năm 2010) cho mỗi đối tượng dân biểu thân Mỹ (Đại sứ Mỹ là William Bunker chỉ đề nghị 1.500 USD).

Xem thêm: Việt Nam Cộng Hoà có thực sự phồn vinh?

Qua yêu cầu của tướng Nguyễn Ngọc Loan – Giám đốc Cảnh sát quốc gia và An ninh quân đội, với sự đồng ý của Đại sứ Lodge, ngày 25-8, CIA cấp cho tướng Loan 10 triệu đồng (tương đương 85.000 USD ~ 623,8 nghìn USD năm 2017) để bù vào ngân khoản của cảnh sát mà tướng Loan đã dùng để hỗ trợ cuộc vận động tranh cử của các ứng cử viên thân Nguyễn Cao Kỳ.

Cuối cùng liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ đạt 35% số phiếu để đắc cử tổng thống và phó tổng thống của nền đệ nhị cộng hòa Việt Nam. Hậu quả của việc này là từ ngày 09 đến 21/09/1967, ở Sài Gòn có hàng ngàn sinh viên các trường đại học bỏ thi, xuống đường biểu tình, mít tinh, hội thảo đòi “Người Mỹ phải rút khỏi Việt Nam”, tố cáo Mỹ sắp đặt sẵn cuộc bầu cử 03/09/1967.

Nhân dân Miền Nam Việt Nam phản đối sự gian lận tranh cử của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và yêu cầu Mỹ rút quân về nước.
Nhân dân Miền Nam Việt Nam phản đối sự gian lận tranh cử của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và yêu cầu Mỹ rút quân về nước.

Ở Cần Thơ, ngày 22/09/1967, sinh viên Phạm Văn Chính – Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Cần Thơ, tổ chức buổi Hội thảo tại giảng đường Viện Đại học Cần Thơ tổ cáo cuộc bầu cử có gian lận, và rằng “Với âm mưu khoác áo dân chủ để hợp thức hóa một thế lực thống trị không có căn bản pháp lý, cuộc bầu cử ngày 03/09/1967 chỉ là một trò gian lận nhằm xâm phạm chủ quyền dân tộc Việt Nam”.

P/S: Chính phủ của đại đa số nhân dân Miền Nam Việt Nam lập nên thời kỳ chống Mỹ cứu nước là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (được thành lập vào ngày 6/6/1969).

Gió Muôn Phương

Lịch sử Việt Nam

Sách giáo khoa lịch sử Anh quốc nói về chế độ Việt Nam cộng hòa

Đoạn trích bên dưới được dẫn từ sách giáo khoa lịch sử Anh quốc dành cho học sinh chương trình tú tài quốc tế (tương đương dự bị đại học) của Đại học Oxford. Chương trình được Đại học Oxford áp dụng cho học sinh đầu vào trên toàn thế giới.
7

Tình hình ở miền Nam phức tạp hơn (miền Bắc) do sự tồn tại của nhiều lãnh đạo với những chính sách và kế hoạch khác nhau nhằm ngăn chặn sự lan tỏa của chủ nghĩa cộng sản, nhưng điểm chung của xã hội dưới sự dẫn dắt của những người này đều là hỗn loạn, tham nhũng và cư xử tàn ác đối với những đối tượng được xếp vào hàng kẻ thù quốc gia.

Ban đầu người Pháp muốn duy trì chính quyền Bảo Đại như một chính phủ bù nhìn thân Pháp, nhưng sau đó Pháp đã rút lui và Bảo Đại thì quá nhu nhược. Lo sợ sự bùng nổ của cộng sản, Mỹ đã đứng ra bảo trợ cho miền Nam Việt Nam. Trong những năm cuối của cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 3 tỷ đô để chống lại Việt Minh.

Mỹ cần tìm một lãnh đạo cứng rắn hơn cho chính quyền thân Mỹ mà mình dựng nên và tìm thấy một người phù hợp là Ngô Đình Diệm, một người Công giáo theo chủ nghĩa dân tộc, người đã thể hiện sự phản kháng công khai đối với sự cai trị của người Pháp từ những năm 1930.

Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, Bảo Đại cho mời Diệm về làm thủ tướng năm 1954. Năm 1955, Diệm hất cẳng (nguyên văn là “ousted“) Bảo Đại và thành lập chính phủ mới ở miền nam. Trong một cuộc trưng cầu dân ý được sắp đặt một cách lộ liễu, người dân miền Nam Việt Nam đã bỏ phiếu để thành lập một chính phủ cộng hòa với Diệm là tổng thống. Sự thống trị ngày càng tham nhũng và tàn bạo của Diệm đã dần khơi dậy những mâu thuẫn ở Việt Nam.

Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 được sắp đặt lộ liễu
Cuộc trưng cầu dân ý năm 1955 được sắp đặt lộ liễu

Xem thêm: Chính quyền VNCH là chính quyền hợp pháp của nhân dân Miền Nam?

Một trong những vấn đề đầu tiên mà Diệm cần giải quyết là sự phân chia ruộng đất. Một số nhóm cấp tiến và ôn hòa chủ trương ủng hộ phân chia lại ruộng đất để nông dân có đủ đất cày. Khi đóng chiếm miền Nam năm 1945, Việt Minh đã giúp người dân phân chia lại khoảng 600 nghìn héc ta đất, nhờ đó mà vô số nông dân được sở hữu đất, chấm dứt việc phải đóng tô.

Năm 1955 Diệm bãi bỏ điều này và bắt nông dân phải tiếp tục đóng tô. Năm 1958, nông dân bắt buộc phải mua đất canh tác với thời hạn 6 năm. Chi phí này rất tốn kém và khiến người nông dân trở nên bất mãn bởi họ đã mặc nhiên coi đó là đất của mình.

Những chính sách của Diệm cho thấy thái độ của ông ta đối với chính quyền miền Bắc. Diệm luôn sống trong trạng thái sợ hãi sự chống đối và việc bị ám sát. Ông ta rất tích cực trong việc loại bỏ bất cứ mối đe dọa nào đối với quyền lực của mình. Năm 1956, Diệm từ chối tổ chức tổng tuyển cử theo hiệp định Giơ ne vơ với lý do rằng những người dân miền Bắc sẽ bị bắt buộc phải bỏ phiếu cho cộng sản.

Diệm bỏ tù các lãnh đạo đối lập và săn lùng các thành viên Việt Minh còn ở lại miền Nam. Ông ta cũng ưu ái Công giáo hơn tôn giáo chính của đất nước là Phật giáo: chỉ có 10% dân số theo Công giáo và chủ yếu là người miền Bắc di cư vào nam trong cuộc di cư Việt Nam năm 1954. Việc ưu ái lợi ích thiểu số dẫn tới những sự bất mãn ngày càng sâu sắc với sự cai trị của ông ta và sự gia tăng của các nhóm chống đối ở ngay trong lòng miền Nam.

Cuộc di cư Việt Nam năm 1954 chủ yếu là người công giáo
Cuộc di cư Việt Nam năm 1954 chủ yếu là người công giáo

Năm 1957, những người cộng sản miền Nam, hay còn gọi là Việt cộng, đã lợi dụng sự bất mãn của nông dân để tổ chức các nhóm nổi dậy ở nông thôn và ám sát các quan chức chính phủ. Số lượng các cuộc ám sát ngày càng tăng, từ 1.200 năm 1959 tới 4.000 vụ năm 1961. Mặc dù xuất hiện những số liệu này, cùng sự phát triển không ngừng của Việt cộng và lực lượng vũ trang chính trị của nó, sự thành lập của Mặt trận dân tộc giải phóng (thành lập năm 1960 bởi Hồ Chí Minh), Diệm vẫn duy trì kiểm soát ở các thành phố và hầu hết các vùng nông thôn ở miền Nam.

Việc những người nông dân miền Nam bị cách ly khỏi làng của mình và bị dồn vào các nơi được gọi là ấp chiến lược càng khiến cho họ giận giữ. Trong khi chính quyền nói với họ rằng việc này là để bảo vệ người dân khỏi sự cướp bóc của Việt cộng và thổ phỉ, mục đích chính vẫn là để cách ly Việt cộng ra khỏi các căn cứ và ngăn chặn sự tiếp viện từ người dân. Các ấp này được đặt dưới sự giám sát đều đặn của quân đội Việt Nam cộng hòa (ARVN) để ngăn chặn sự xâm nhập của Việt cộng, nhưng chính sách này chỉ càng khiến người nông dân bất mãn hơn và thậm chí không thèm hỗ trợ chính phủ trong việc loại bỏ Việt cộng.

Ngay cả Mỹ cũng bắt đầu cảm thấy báo động bởi những báo cáo về sự tàn bạo của Diệm. Đặc biệt việc đàn áp Phật tử một cách công khai khiến nhiều người Mỹ cảm thấy kinh sợ khi họ lại ủng hộ một nhà lãnh đạo như vậy. Do đó, kế hoạch lật đổ Diệm của một nhóm sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa nhận được sự ủng hộ ngầm từ chính quyền Mỹ là điều hiển nhiên. Tháng 11 năm 1963, Diệm bị ám sát và bị thay thế bởi một nhóm cố vấn không mấy tên tuổi.

Năm 1965, tướng Nguyễn Văn Thiệu trở thành tổng thống. Nhìn bên ngoài có vẻ Thiệu mang đến sự ổn định nhưng thực chất chính quyền của ông ta cũng tham nhũng và tướng tá của ông ta cũng bất tài chẳng khác gì dưới thời Diệm. Những chính sách của Thiệu chẳng theo một hệ tư tưởng nào, mà chỉ dựa trên những nhu cầu trước mắt để chống lại miền Bắc và Việt cộng, cũng như để duy trì sự ủng hộ mình qua hình ảnh và các mối quan hệ cá nhân hơn là việc loại bỏ tình trạng tham nhũng tồi tệ mà Diệm để lại.

Nguyễn Văn Thiệu
Nguyễn Văn Thiệu

Tuy nhiên, dưới thời Thiệu, chính quyền miền Nam đã có những cố gắng trong việc cải cách ruộng đất. Vào năm 1954 có đến 60% nông dân không có đất, hơn 20% nông dân chỉ sở hữu những khoảnh đất nhỏ hơn 2 mẫu Anh (1 mẫu Anh = 4046,86 m2). Hằng năm, những tá điền phải trả khoảng 74% thành quả mà họ thu hoạch được trên mảnh ruộng mà mình canh tác cho địa chủ.

Những năm 1940 và 1950, Việt Minh nhận được sự ủng hộ của nhiều người dân miền Nam nhờ việc phân chia lại ruộng đất triệt để. Việt Minh thực hiện việc này bằng việc bắt giữ các địa chủ và bắt họ nhượng lại đất cho những người nông dân. Việt cộng tiếp tục duy trì những chính sách này và thông qua việc phân chia lại ruộng đất của những địa chủ vắng mặt, họ nhận được sự ủng hộ trung thành của những người nông dân trong việc tổ chức chiến tranh du kích.

Người dịch: Hồ Hải Yến Ngọc