Nhân vật lịch sử

“Nữ tiến sĩ” Nguyễn Thị Duệ – Một sự bịa đặt, dối trá

Muốn đỗ Tiến sĩ phải đi thi để được chứng nhận. Làm sao bà Nguyễn Thị Duệ có thể có chức tiến sĩ năm 1594 nếu năm đấy còn không có kỳ thi nào được tổ chức?
6

Mấy chục năm trước, nhà sử học tỉnh Hải Dương, nguyên Trưởng ban Thông sử Tỉnh ủy Hải Hưng (nay là Hải Dương và Hưng Yên), đã tôn vinh Nguyễn Thị Duệ – Phi tần của vua Mạc Kính Cung (Cuối thế kỷ 16 – đầu thế kỷ 17) là nữ Tiến sĩ Hán học đầu tiên của Việt Nam“. Và từ đó đến nay, thông tin này được giới truyền thông cả nước quảng bá rộng rãi, hàng loạt loại hình ăn theo được các văn nghệ sĩ địa phương sáng tác dưới dạng tiểu thuyết, thơ, chèo chỉ với mục đích quảng bá cho nền văn hiến tỉnh nhà.

Thậm chí người ta còn đúc tượng đồng vị nữ “Tiến sĩ” này thờ trong Văn miếu Mao Điền cùng với 7 vị đại khoa vùng đất Xứ Đông, lên cả bộ phim Khát Vọng Non Sông” (Tập 7).

Mình nói đây là 1 sự bịa đặt, vì ông Tằng Bá Hoành khi viết về thông tin này trong cuốn “Tiến sĩ nho học Hải Dương”, trang 143, ông chỉ ghi 1 cách rất sơ sài, không trích dẫn bất cứ tư liệu nào. Trong khi những người khác được ghi niên hiệu, năm thi, tuổi, phần của Bà chỉ có tên, học vị, còn năm thi, niên hiệu không có, chỉ ghi “thế kỷ 16” (!?)

Còn theo rất nhiều bài báo, theo phim “Khát Vọng Non Sông“, bà từng lấy tên giả, đi thi và đỗ đầu khoa thi Hội năm Giáp Ngọ (1594), do vua Mạc Kính Cung. Nhưng ngay cả thế, nó vẫn là 1 sự bịa đặt.

1. Sai về thời gian thi

Nhà Mạc cứ 3 năm thì mở kỳ thi hội 1 lần, từ năm nhà Mạc nắm quyền đến lúc bị nhà Lê đuổi khỏi Thăng Long thi tổng cộng 22 lần, mình ví dụ 5 năm thi đầu tiên là 1529, 1532, 1535, 1538, 1541. Các năm sau các bạn cứ cộng với 3 là ra. Mà nếu khoa trước đã mở vào năm Nhâm Thìn (1592), thì 1592 mà cộng với 3 phải là 1595 chứ không thể là 1594 được. Chính vì thế, không có kỳ thi Hội nào năm 1594 được ghi lại cả, không có thật thì sao người ta ghi lại đươc. Các sách sử chỉ chép kỳ thi Hội của nhà Mạc đến năm 1592.

Nếu bạn nào bảo nhà Mạc bị coi là “không chính thống” nên sử gia không ghi chép lại, thì điều đó cũng sai. Dù nhà Mạc suốt thời gian tồn tại bị coi là “ngụy triều” do cướp ngôi nhà Lê, thì sử gia nhà Lê vẫn ghi chép lại các kỳ thi của nhà Mạc rất chi tiết cụ thể. Thậm chí năm 1592, nhà Mạc bị đuổi khỏi Thăng Long, phải làm kỳ thi Hội ở nơi khác, thì nhà Lê vẫn ghi chép lại cụ thể như sau:

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển XVII chép:

Họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho bọn Phạm Hữu Năng 4 người đỗ Tiến sĩ xuất thân; bọn Nguyễn Hữu Đức 13 người đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân.

Lịch triều hiến chương loại chí, phần “Khoa mục chí” ghi như sau:

Nhà Mạc, năm Hồng Ninh thứ 2 (1592), lấy đỗ Tiến sĩ 17 người. Hội nguyên: Hoàng Đĩnh (người xã Tiên Minh, huyện Tiên Minh – Tiên Lãng). Đình nguyên Hoàng giáp: Phạm Hữu Năng (người xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng).

Muốn đỗ Tiến sĩ, dù tài năng thế nào thì cũng phải đi thi để được chứng nhận. Làm sao bà có thể có chức tiến sĩ năm 1594 nếu năm đấy còn không có kỳ thi nào được?

2. Sai về thực tế lịch sử

Ở trên mình mới đưa ra lệ thi Hội là 3 năm 1 lần, và trích dẫn rằng sách sử không hề ghi chép kỳ thi năm 1594. Giờ mình sẽ nói đến cái sai thứ 2, là việc “Mạc Kính Cung tổ chức thi ở Cao Bằng”.

Theo bộ phim “Khát Vọng Non Sông” của VTV nói: Bà thi năm 1594, kỳ thi Hội do vua Mạc Kính Cung mở ở Cao Bằng.

Nhưng theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, suốt năm 1594 chiến tranh loạn lạc, Mạc Kính Cung trốn chạy nhiều nơi, không ở Cao Bằng.

Đầu năm 1594, Mạc Kính Cung đang trốn ở An Bác, Lạng Sơn (“Tháng giêng (1594), Mạc Ngọc Liễn đem Mạc Kính Cung đến chiếm cứ huyện An Bắc. Tiết chế Trịnh Tùng sai Hữu tướng Hoàng Đình Ái đem quân đi đánh..”)

Đến tháng 4, quân Mạc Kính Cung kéo xuống chiếm Quảng Ninh nhưng thất bại (“Đến tháng 4 thì vua tôi Mạc lại đang kéo xuống Quảng Ninh: ” Ngày 11, Mạc Kính Cung lấy Mạc Ngọc Liễn làm thái phó đem quân chiếm giữ núi Yên Tử , đánh cướp huyện Vĩnh Lại, đi đến đâu nhiều người theo về. Tiết chế Trịnh Tùng sai Nguyễn Hoàng đem thuỷ quân tiến thẳng đến Hải Dương đánh tan. Ngọc Liễn chạy về huyện An Bác, sau chiếm giữ châu Vạn Ninh”).

Sau khi chiếm Quảng Ninh thất bại, Mạc Kính Cung buộc phải chạy sang Quảng Tây Trung Quốc (“Mạc Kính Cung và đảng nguỵ trốn sang ở Long Châu (Quảng Tây) của nhà Minh, đến đây hay đem người Long Châu về cướp các châu ở Lạng Sơn. Tiết chế Trịnh Tùng sai quân họp với quân ba ty Lạng Sơn đánh đuổi. Đảng nguỵ chạy về Long Châu.“)

Còn những nơi khác, các quý tộc nhà Mạc đang cầm cự ở Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Quảng Ninh. Không có dòng nào chắc đến Cao Bằng, Mạc Kính Cung cũng không ở Cao Bằng. Vậy thì làm sao có thể có 1 kỳ thi Hội ở Cao Bằng năm 1594 được. Nhất là lại trong thời điểm chiến trận khốc liệt, nhà Mạc lo giữ thân mình còn chưa xong, sao lại có thể ung dung làm 1 kỳ thi vốn đòi hỏi quy trình và nhân lực nhiều như vậy được.

Như vậy, việc bà Nguyễn Thị Duệ là Tiến sĩ kỳ thi hội năm 1594 tổ chức ở Cao Bằng bởi Mạc Kính Cung là không thể. Trái với lệ thi 3 năm của nhà Mạc, và trái với thực tế lịch sử, Mạc Kính Cung không hề ở Cao Bằng để làm kì thi.

Bà Nguyễn Thị Duệ có thật, nhưng bà không phải là Tiến sĩ.

Ở trên mình chỉ nói việc học vị Tiến sĩ và việc thi đỗ năm 1594 là không có thật, còn bà Nguyễn Thị Duệ là người thật. Có 1 bài thơ ca ngợi về bà, sáng tác năm 1795, khắc vào bia “Chí Linh bát cổ” năm 1798, hiện được bảo quản ở Nam Sách Hải Dương:
星妃古塔

玉手折高枝

鏡顏留古塔

從古此江山

至今幾蓂荚

花草自射開

漁樵相對荅

山色正青蒼

秋聲何蕭颯

Dịch:

Tay ngọc vin bẻ cành cao

Mặt gương còn lưu trên tháp cổ

Giang sơn từ bấy đến giờ

Đã có bao tấm gương đoan trinh tốt đẹp như vậy

Hoa cỏ tự tàn tự nở

Ngư tiều cùng nhau đối đáp

Sắc núi đã xanh càng thêm xanh

Tiếng thu bao nhiêu độ nghe xào xạc.

Nhưng bài thơ cũng chỉ ca ngợi vẻ đẹp, sự dịu dàng và tấm lòng đoan trinh của bà, chứ không nói gì đến dỗ đạt khoa cử, hay bắt về Thăng Long, được Chúa Trịnh phong làm nữ quan dạy dỗ cung nữ. Tất cả những cái đó điều không có căn cứ, thẳng thắn mà nói thì là bịa đặt.

Kết luận: Qua những tư liệu trên, 1 đều đã được khẳng định chắc chắn: KHÔNG CÓ KHOA THI HÔI NĂM GIÁP NGỌ (1594) của triều nhà Mạc. Vì thế đương nhiên cũng không thể có một nhân vật Nguyễn Thị Duệ giả trai thi đỗ Hội nguyên vào năm mới 20 tuổi tại Cao Bằng. Mọi thông tin ông Tăng Bá Hoành và các bài báo đưa ra đều là giả tạo. Và cũng chính bởi sự giả tạo ấy khiến cho xã hội hiểu lầm dẫn đến tình trạng ngộ nhận tai hại này.

Mình nghĩ đất nước chúng ta vốn đã là 1 nước truyền thống hiếu học, số lượng người tài giỏi rất đông, nhất là lại ở Hải Dương, 1 trong những nơi có nhiều người học giỏi nhất miền Bắc thời phong kiến. Vậy nên chúng ta nên tự hào với những người thật việc thật hơn là những thứ giả tạo này (Mình đang nói về danh hiệu “nữ tiến sĩ đầu tiên“).

Lê Hoàng

Nhân vật lịch sử

Nguyễn Thị Duệ – Hình ảnh của một nữ giáo viên dưới thời phong kiến

Theo sách Đại Nam nhất thống chí viết về Nguyễn Thị Duệ thì "bà thông minh hơn người, học rộng hay chữ, hơn 10 tuổi giả trai, theo thầy học tập". Các tấm gương đỗ đạt cao cũng kích thích hứng thú học tập của bà.
4

Nguyễn Thị Duệ (1574-1654) còn có tên Ngọc Toàn, hiệu là Diệu Huyền, bà là nữ nhân tuyệt sắc lại rất thông minh trong một gia đình có truyền thống hiếu học tại làng Kiệt Đặc, nay thuộc xã Văn An, Chí Linh, Hải Dương. Quê bà vốn là đất học, trước đó đã có nhiều người đỗ đạt cao, tiếng tăm lừng lẫy như các Trạng nguyên Vũ Dương, Trần Sung Dĩnh thời Hồng Đức, Lê Nại thời Đoan Khánh đầu TK XVI.

Nguyễn Thị Duệ - Hình ảnh của một nữ giáo viên dưới thời phong kiến
Nguyễn Thị Duệ – Hình ảnh của một nữ giáo viên dưới thời phong kiến

Thuở nhỏ bà tỏ ra rất sáng dạ, lên 10 tuổi đã biết viết văn. Nổi tiếng là vừa đẹp người lại đẹp nết, khiến nhiều gia đình quyền quý đến xin cưới hỏi nhưng gia đình bà đều không ưng thuận. Tương truyền, có cậu ấm trong vùng đến ghẹo, bà đã đọc châm 2 câu thơ:

Xá chi vàng đá hỗn hào

Thoảng đem cánh phượng bay cao thạch thành

Cậu Ấm đó nghe xong thì lẳng lặng bỏ ra về.

Năm Quang Hưng thứ 15 – Mạc Bảo Định nguyên niên 1592, triều đình Lê – Trịnh thu phục Thăng Long, quân Mạc rút về phía Đông thuộc trấn Hải Dương. Đầu năm Quang Hưng thứ 16, quân Lê – Trịnh tấn công triệt hạ vùng Hải Dương, trọng tâm là Nam Sách, Chí Linh, nhà Mạc thất thủ phải chạy khỏi Hải Dương, chạy lên Cao Bằng, lập căn cứ tồn tại ở đây trên nửa thế kỷ.

Làm vợ vua Mạc

Tại Cao Bằng, nhà Mạc mở khoa thi Hội, sĩ tử ứng thí khá đông. Nhưng, luật lệ đương thời không cho phép con gái được học hành thi cử vì vậy Nguyễn Thị Duệ cải trang giả trai để dự khoa thi Tiến sĩ năm Giáp Ngọ (1594) tại Cao Bằng, năm ấy bà 20 tuổi mang tên Nguyễn Du, vượt vào trường thi và đã đỗ đầu, còn thầy dạy đỗ thứ hai. Ngợi khen người học trò tài năng, người thầy đã thốt lên: “Màu xanh từ màu lam mà ra, thế mà lại đẹp hơn màu lam“.

Trong buổi triều đình ban yến, vua Mạc thấy thí sinh đỗ đầu kỳ thi Hội ấy có dáng vẻ thanh tú, môi son, mắt phượng sáng ngời bèn dò hỏi. Khi biết được sự thực vua Mạc không quở trách mà còn trọng dụng bà, cho bà dạy các phi tần và một thời gian sau thì lấy bà làm vợ, đặt biệt danh là Tinh phi (Sao Sa). Vì thế dân gian còn gọi là bà chúa Sao.

Tuy nhiên gần đây có nhiều quan điểm cho rằng Nguyễn Thị Duệ không phải là tiến sĩ mà đây chỉ là “tưởng tượng” của nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành.

Làm quan Lê – Trịnh

Năm 1625, quân Lê – Trịnh tiến lên Cao Bằng diệt nhà Mạc. Bà vào rừng ẩn náu, bị quân lính của tướng tiên phong Đinh Văn Tả bắt được. Bà cầm gươm nói: “Các ngươi bắt được ta thì nên để ta đến gặp Chúa của các ngươi, nếu vô lễ thì với lưỡi gươm này ta sẽ tự liệu”. Nghe thế họ bèn giải bà về kinh đô Thăng Long. Vua Lê – Chúa Trịnh biết bà là người có tài lại có sắc, liền trọng dụng, cho bà trông coi các việc tại phủ Chúa.

Tại hậu cung vương phủ thời ấy có lục viện gồm: Thượng mục viện (dạy đi đứng); Thượng dung viện (dạy trang điểm); Thượng hòa viện (dạy tính nết); Thượng trinh viện (dạy dáng điệu); Thượng văn viện (dạy học chữ) và Thượng đức viện (dạy lễ nghi) thì Dương Vương Trịnh Tạc đã tiến cử bà Nguyễn Thị Duệ làm Lễ sư, chuyên dạy các phi tần và phong là Chánh Vương Phủ, Nghi ái Quan.

“Một tấm gương sáng chiếu suốt ba vua” (Lễ sư thông tuệ nhất kính chiếu tam vương). Cảm phục tài đức của nhau, Nghi ái Quan Nguyễn Thị Duệ và Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ vua Lê Thần Tông) trở thành đôi bạn tri âm tri kỷ. Hằng tháng, hai bà cùng đi lễ chùa, vãn cảnh. Qua những cuộc đàm đạo với các sư sãi và những bậc hiền tài, “Bà Chúa Sao sa” Nguyễn Thị Duệ nắm được tình hình đất nước và đời sống của dân chúng, từ đó có được những kế sách hay cố vấn cho triều điều ban bố những cải cách hợp lòng dân.

Tuy ngôi cao lộc hậu nhưng Nghi ái Quan Nguyễn Thị Duệ sống rất thanh đạm, luôn dành sự quan tâm đến việc thi cử, bồi dưỡng nhân tài. Để thúc đẩy phong trào học tập địa phương, cách một khoảng thời gian, bà cùng các bậc túc nho đến giảng dạy tại các khu vực ấn định rồi soạn đề, tổ chức thi. Bài thi được gửi đến cho bà chấm, kết quả được gửi trả lại địa phương. Cách làm này góp phần đáng kể trong việc nâng cao giáo dục tại các vùng xa kinh kỳ.

Phần lớn ở các kỳ thi Đình và thi Hội, bài vở đều qua tay bà chấm chọn. Mỗi tháng 2 kỳ, bà sai người làm cỗ, họp sĩ tử hàng huyện lại cho tập làm văn. Đề bài do bà ra rồi sai người từ kinh đô mang về. Bài làm xong giao cho Hội Tư Văn niêm phong lại đem nộp cho bà. Tự bà chấm bài, đúng hạn trả lại và cho đăng tên những người có bài và điểm lên Văn chỉ. Nhiều người trong số đó đã đỗ Đại khoa, riêng làng Kiệt Đặc quê hương bà đã có 3 người đỗ Tiến sĩ. Bà là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước nhà, thực hiện dạy học từ xa mà sau 4 thế kỷ chúng ta mới kế thừa, phát huy.

Với mục đích khuyến học thành tài, trong số lộc điền dọc sông Kinh Thày, dân gian quen gọi là “Dải yếm bà Chúa Sao sa”. Nghi án Quan Nguyễn Thị Duệ đã trích ra 10 mẫu để thưởng cho những tân Tiến sĩ của quê hương luân phiên cày cấy thu hoa lợi phục vụ việc học hành. Nhân dân rất cảm phục tài năng và đức độ, nên xưng tụng bà là “Nghiêu, Thuấn trong phái nữ, thần tiên ở trên đời”.

Đặc biệt, trong kì thi tuyển Tiến sĩ khoa Tân Mùi, niên hiệu Đức Long thứ 3 (1631) ở Thăng Long, bà được triều đình Lê – Trịnh mời vào ngôi vị Ban Giám khảo và được hậu thế đúc tượng đồng tại hậu cung Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương). Khi chấm bài , các giám khảo thấy có một quyển làm 4 mục rất tốt, nhưng lại bỏ qua không làm 8 mục. Chúa đọc cảm thấy rất tâm đắc nhưng vài chổ chưa hiểu nên hỏi bà. Bà liền giải nghĩa theo điển tích, nói ra hàm ý sâu xa, khiến Chúa và các quan phải khâm phục cả người làm lẫn người diễn giải. Bà còn bình:” Bài văn làm được 4 câu mà hay còn hơn làm hết 12 câu mà không hay, triều đình cần người thực tài chứ không cần kẻ nịnh bợ”. Thế là các quan cùng đồng ý chấm cho người làm bài đậu tiến sĩ khoa thi năm đó. Khi tra ra thì sĩ tử đó là Nguyễn Minh Triết, em họ của bà.

Cuộc sống cuối đời

Do tình hình đất nước bấy giờ rối ren nên bà đã xin từ quan về quê , vua Lê và chúa Trịnh không khuyên được bà nên đã cho bà về quê. Bà dựng am để có nơi đọc sách và bảo ban các sĩ tử trong làng. Chúa Trịnh Tạc ban lệnh chỉ: tiền đóng góp về binh lính, tô thuế ruộng công, thuế đò thuế chợ cùng các thứ thuế khác thu ở quê đều để làm bổng lộc cho bà. Từ đó về sau, suốt 20 năm dân làng Kiệt Đặc không chỉ được miễn trừ sưu thuế, phu phen, tạp dịch mà còn được cấp 100 quan tiền và 2 mẫu ruộng tốt là bổng lộc của bà.

Năm 2004, có tám vị đại khoa của Hải Dương là hiền tài của đất nước được đúc tượng đồng và khám thờ, trong đó có nữ tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ. Bà được thờ cùng Khổng Tử tại hậu cung Văn Miếu Mao Điền( Hải Dương). Phía trong hậu cung của Văn Miếu thờ tổng thảy 9 bài vị. Chính giữa thờ Khổng Tử, lần lượt hai bên là Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phạm Sư Mạnh, Vũ Hữu, Tuệ Tĩnh và Nguyễn Thị Duệ.

Trương Thị Kim Dung

Nhân vật lịch sử

Những nữ nhân vật lịch sử Việt Nam đặc biệt thuở xưa

Nhân tháng tri ân phụ nữ Việt Nam, 10/2020 Khám Phá Lịch Sử xin tổng hợp những nữ nhân vật lịch sử Việt Nam đặc biệt thuở xưa. Mời các bạn cùng thảo luận.
6

1. Hoàng hậu được tôn vinh là Thánh Tổ nghề may: Hoàng hậu Nguyễn Thị Sen, một trong 05 Hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng.

Tượng thờ thánh tổ nghề may Nguyễn Thị Sen tại Trạch Xá (Hà Nội)
Tượng thờ thánh tổ nghề may Nguyễn Thị Sen tại Trạch Xá (Hà Nội)

2. Vị Hoàng hậu làm thay đổi triều đại: Hoàng hậu Dương Thị Nguyệt của Đinh Tiên Hoàng.

Tượng Hoàng hậu Dương Nguyệt Nương ở di tích Nghè Xuân Phả (Thọ Xuân, Thanh Hóa)
Tượng Hoàng hậu Dương Nguyệt Nương ở di tích Nghè Xuân Phả (Thọ Xuân, Thanh Hóa)

3. Nữ nhân giả trai tòng quân ra trận: Nữ tướng Nguyễn Thị Bành của Khởi nghĩa Lam Sơn.

Tranh minh hoạ nữ tướng Nguyễn Thị Bành đã giả trai, quyết ra trận đánh giặc Minh xâm lược
Tranh minh hoạ nữ tướng Nguyễn Thị Bành đã giả trai, quyết ra trận đánh giặc Minh xâm lược.

4. Vị Hoàng hậu duy nhất trong lịch sử được an táng cùng lăng mộ với Hoàng đế Gia Long: Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (Tống Phúc Thị Lan) của Hoàng đế Nguyễn Thế Tổ.

Mộ vua Gia Long và Thừa Thiên Cao hoàng hậu tại Thiên Thọ Lăng thuộc huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.
Mộ vua Gia Long và Thừa Thiên Cao hoàng hậu tại Thiên Thọ Lăng thuộc huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.

5. Vị Hoàng thái Hậu sống qua nhiều đời Hoàng đế nhất: Hoàng thái hậu Từ Dũ (Tự Dụ) (Quý phi của Hoàng đế Nguyễn Hiến Tổ). Bà đồng thời cũng là Thái Thái Hoàng Thái Hậu duy nhất trong lịch sử.

Tượng đài hoàng thái hậu Từ Dũ tại Bệnh viện Từ Dũ, TP.HCM.
Tượng đài hoàng thái hậu Từ Dũ tại Bệnh viện Từ Dũ, TP.HCM.

6. Người phụ nữ là con vua, chị vua, em vua, vợ vua và làm mẹ của vua: Trinh Minh Hoàng Hậu, Hoàng hậu của Hoàng đế Lý Thái Tổ (con gái Lê Đại Hành)

Trinh Minh hoàng hậu
Trinh Minh hoàng hậu (Ảnh wikipedia).

7. Cô gái Hà Lan lấy Hoàng đế Việt Nam: Đó là Orona là con gái phó toàn quyền Hà Lan tại Đài Loan, bà là phi tần của Hoàng đế Lê Thần Tông.

Orona – Người vợ Hà Lan của vua Lê Thần Tông (Ảnh minh họa: Pinterest)

8. Hai vị Hoàng Thái Hậu bị giết một cách bi thảm nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam:

– Huy Gia Hoàng Thái Hậu Nguyễn Thị Hằng (Quý phi của Lê Thánh Tông): Bà bị cháu nội là Lê Uy Mục ra lệnh giết chết.

Huy Gia Hoàng Thái Hậu
Huy Gia Hoàng Thái Hậu (Ảnh minh họa)

– Hiến Từ Hoàng Thái Hậu (Hoàng hậu của Hoàng đế Trần Minh Tông): Các sử gia cho rằng bà bị Trần Nhật Lễ giết hại do.

Hiến Từ Hoàng Thái Hậu
Hiến Từ Hoàng Thái Hậu (Tranh minh họa)

9. Hoàng hậu theo đạo Công giáo: Nam Phương Hoàng Hậu.

Nam Phương Hoàng Hậu

10. Nữ Tiến sĩ Nho học đầu tiên và duy nhất trong lịch sử Khoa bảng Việt Nam: Nguyễn Thị Duệ, bà giả nam đi thi và đỗ “thủ khoa” kỳ thi Khoa thi Hội năm Giáp Ngọ (1594) triều vua Mạc Đại Tông.

Tượng thờ bà Nguyễn Thị Duệ
Tượng thờ bà Nguyễn Thị Duệ

11. Phi tần duy nhất của Hoàng đế qua đời do bệnh hậu sản, băng huyết, sau này có con lên ngôi Hoàng đế: Chiêu Nhân Hoằng Ý Hoàng Thái Hậu (mẹ đẻ Lê Uy Mục, phi tần của Hoàng đế Lê Hiến Tông)

12. Vị Thái hậu duy nhất chết tại nước ngoài: Mẫn Thái Hậu (vợ thứ Thái tử Lê Duy Vĩ, mẹ Lê Chiêu Thống).

13. Nữ nhân đầu tiên được phong quan: Phạm Thị Trân, bà cũng là Tổ sân khấu chèo.

Đền Vân Thị, nơi thờ bà tổ hát chèo Phạm Thị Trân
Đền Vân Thị, nơi thờ bà tổ hát chèo Phạm Thị Trân (Ảnh wikipedia)

14. Cô gái có “giá” cao nhất trong lịch sử: Huyền Trân Công Chúa.

Tượng thờ Huyền Trân Công Chúa
Tượng thờ Huyền Trân Công Chúa
Thực Hư Chuyện Huyền Trân Công Chúa Ngoại Tình Với Trần Khắc Chung

15. Hậu cung “lớn nhất” trong lịch sử: Hậu cung của Hoàng đế Nguyễn Thánh Tổ.