Văn hóa Việt Nam

Lễ phục Cổn miện thời Lý – Trần

Cổn miện là lễ phục cao quý của hoàng đế Á Đông, chỉ xếp sau Đại cừu miện (ngoại trừ Nhật Bản). Ngoài lễ tế trời, người đứng đầu của một số triều đại trong lịch sử còn sử dụng loại trang phục này trong lễ đăng cơ.
78

Cổn miện được các vị quân chủ Việt Nam sử dụng từ rất sớm. “Đại Việt sử ký toàn thư”, quyển 1, kỷ nhà Đinh có nhắc đến áo cổn như sau: “Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế.” (Nguyên văn chữ Hán và phiên âm: 太后見眾心悅服命,以龍衮加桓身請即帝位 – Thái hậu kiến chúng tâm duyệt phục mệnh, dĩ long cổn gia Hoàn thân thỉnh tức đế vị)

Ghi chép về cổn miện thời Lý – Trần trong sử sách tuy không nhiều nhưng vẫn có thể khảo cứu và dựa vào để đưa ra phỏng đoán về kết cấu của bộ lễ phục này, tỷ như trong “Đại Việt sử lược”, quyển 3 có nhắc đến sự kiện Trần Tự Khánh (陳嗣慶) trả lại mũ Bình thiên cho Lý Huệ Tông (李惠宗). “An Nam chí lược” (安南志略) của tác giả Lê Tắc (黎崱) cũng ghi chép về quy chế cổn miện như sau:

“Các chương phủ phất, đại phấn, hoa trùng (hoa văn trên áo cổn)

Tổ thụ: lụa thắt lưng.

Thuỳ bội: dải ngọc đeo ở hông

Phương tâm: tấm phụ tâm vuông đính trước ngực áo.

Khúc lĩnh: cổ áo tràng.

Miện lưu: dải tua đính ở mũ miện, đều hơi giống Trung Quốc.

Quốc chủ có mũ Bình thiên (平天冠), mũ Quyển vân (卷雲冠), mũ Phù dung (芙蓉冠), mặc áo Cổn (袞衣), đeo đai Kim Long, cổ khoác phương tâm khúc lĩnh bằng là trắng thêu bó gấm đính vàng, trân châu, tay cầm ngọc khuê. Phàm tết lễ nhận quần thần lạy mừng.”

Dựa trên bức phù điêu “Ngô gia thị bi” tại chùa Dầu (Hà Nam), kèm theo đó là khảo cứu sử liệu, hiện vật của cả Trung Hoa và Việt Nam, chúng tôi phỏng đoán kết cấu của trang phục cổn miện thời Lý – Trần có nét tương đối giống với trang phục cổn miện thời Đường – Tống.

Phác thảo Cổn miện Lý – Trần dựa trên công trình khảo cứu của đội ngũ Đại Việt Phong Hoa
Phác thảo Cổn miện Lý – Trần dựa trên công trình khảo cứu của đội ngũ Đại Việt Phong Hoa. (Ảnh A Nùng)

Xem thêm: Quy chế triều phục bá quan thời Lê Trung Hưng 1725 – 1789

Các triều đại của Việt Nam ta chủ trương “nội đế ngoại vương”, xưng thần và nhận sắc phong vương của Thiên tử Trung Hoa nhưng trong phạm vi lãnh thổ quốc gia cũng như trong mối quan hệ bang giao với các vương quốc láng giếng thì vẫn luôn thể hiện vị thế của hoàng đế, bởi vậy quy chế Cổn phục của “Nam đế” cũng sẽ đầy đủ như của quân chủ Trung Quốc, bao gồm mũ miện (còn gọi là mũ Bình Thiên), trên miện bản đính 12 dây lưu, áo cổn có đủ 12 chương (hoa văn) bao gồm: Nhật (日- mặt trời), Nguyệt (月- mặt trăng), Tinh Thìn (星辰- chòm sao), Tảo (藻), Phấn mễ (粉米- gạo trắng), Phủ (黼- rìu), Phất (黻- thể hiện hai mặt tốt-xấu), Long (龍- rồng), Hỏa (火- lửa), Sơn (山-núi), Hoa trùng (華蟲- chim trĩ), Tông di (宗彝- Cặp cốc có hình con hổ và con khỉ, là đồ dùng trong lễ tế xưa) và các phụ kiện như thụ, tế tất, thường, đai, phương tâm khúc lĩnh…

Đại Việt Phong Hoa

Văn hóa Việt Nam

Tượng Phật A Di Đà chùa Phật Tích – Đỉnh cao nghệ thuật thời Lý

Bức tượng Phật A Di Đà là "Pho tượng Phật xưa nhất được xác định niên đại" hiện đang được lưu giữ tại Chùa Phật Tích - Bắc Ninh được coi là một tuyệt tác về điêu khắc tượng tại Việt Nam.
6

Pho tượng Phật xưa nhất được xác định niên đại

Bức tượng Phật A Di Đà thời nhà Lý còn có biệt danh là “Pho tượng Phật xưa nhất được xác định niên đại”. Theo văn bia Vạn Phúc thiền tự bi thì năm 1057, vua Lý cho xây dựng chùa và dựng một ngọn tháp cao trên núi Lạn Kha, bên trong đặt pho tượng Phật cao sáu thước. Theo đơn vị đo lường là mét thì pho tượng này cao 1,86 m, thêm phần bệ thì đạt 2,69 m.

Bức tượng Phật A Di Đà - Đỉnh cao nghệ thuật thời Lý tại chùa Phật Tích được xem là Pho tượng Phật xưa nhất được xác định niên đại
Bức tượng Phật A Di Đà – Đỉnh cao nghệ thuật thời Lý tại chùa Phật Tích được xem là “Pho tượng Phật xưa nhất được xác định niên đại”. Ảnh: Nguyễn Hùng & Hội quán di sản.

Tượng xưa thếp vàng nhưng trải qua nhiều năm tháng, ngọn tháp đổ bị đổ, dân tìm được pho tượng đã tróc lớp vàng, lộ lõi bằng đá. Chính sự phát hiện này mà tên ngôi làng tìm thấy bức tượng được đổi thành Phật Tích. Vào những năm 1940, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa Phật Tích bị đốt, toàn cảnh bị tàn phá nặng và pho tượng Phật A Di Đà cũng bị hư hại do súng đạn bắn vào, gãy phần đầu và cổ. 

Lính Pháp từng dùng tác phẩm nghệ thuật vĩ đại này làm bia. Chúng đứng từ phía sông Đuống mà bắn vào, làm rụng đầu và vỡ ngực tượng. Sau đó, một cụ già trong làng đã đem đầu tượng về cất giấu. Khi hòa bình lập lại, cụ đem nộp cho chính quyền địa phương để gắn vào tượng.

– Theo các cụ cao niên trong làng Phật Tích kể lại

Hiện nay, bức tượng này vẫn được thờ tại Thượng điện chùa Phật Tích. Bên cạnh đó còn có hai phiên bản đúc lại vào thập niên 1950 và 1960 đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Bảo tàng được công nhận là Bảo vật Quốc gia tháng 10 năm 2012. Không chỉ là một hiện vật tôn giáo, văn hóa Việt Nam mang ý nghĩa lịch sử quan trọng, tượng Phật A Di Đà thời Lý được coi là một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo – một chuẩn mực về điêu khắc tượng tại Việt Nam xưa và nay.

Tác phẩm chia thành 2 phần rõ rệt: Phật A Di Đà và bệ đá tòa sen

Phần Tượng Phật A Di Đà được thể hiện ngồi xếp bằng, hai bàn tay ngửa chồng nhau để trước bụng tì nhẹ trên đùi, nếp áo khoác bó sát người có những đường cong thướt tha buông rủ xuống phủ kín hai chân. Mình tượng thanh mảnh, ngồi hơi dướn về phía trước, trông rất uyển chuyển, nhưng lại vững vàng. Khuôn mặt A Di Đà dịu hiền, phúc hậu có cái đẹp lý tưởng của nữ giới: khuôn trăng đầy đặn, hàng lông mi mảnh nhỏ cong thanh tú, được diễn tả bằng một nét liền mềm mại. Đôi mắt phượng lim dim, cổ thanh, cao ba ngấn. Phật A Di Đà ngồi trên bệ đá tòa sen, nên cái đẹp vốn có của pho tượng lại được nhân lên bởi phần bệ đá được trang trí hoàn mỹ.

Bệ đá hoa sen là một đóa hoa nở rộ với hai tầng cánh. Tầng trên chạm đôi rồng theo lối đục nông, mỏng, trái lại bệ bát giác được trang trí phủ kín bề mặt, với phong cách chạm nổi. Mặt bên của cả hai tầng đều có nhiều hình rồng giỡn đuôi nhau, trên một dây mây lửa.

Tượng A Di Đà có tư cách đại diện cho một nền nghệ thuật lớn, nền nghệ thuật Phật giáo thời Lý. Bức tượng đã đạt tới độ chín của một phong cách. Độ chín, sự cổ điển của Bảo vật quốc gia này được thể hiện qua đường viền trong trẻo, khớp kín, như không biết chỗ bắt đầu và chỗ kết thúc. Đường viền ấy gợi được khái niệm luân hồi trong biểu tượng và tạo được cái bóng hình trọn vẹn, yên ổn nơi cảm giác. “Đứng ở điểm nào cũng có thể ôm choán được khối hình toàn thể. Đó là chỉ tiêu của mọi nền điêu khắc cổ điển trên thế giới”.

– Nhà nghiên cứu Thái Bá Vân nói về giá trị nghệ thuật của bức tượng.

Nguyen Duc Anh