Văn hóa Việt Nam

“Cái” và “Cáy”, anh chưa phân biệt được thì đừng động phòng nhé!

Em sẽ viết cho anh bài học hai từ "cái" và "cáy", anh phải học thuộc trong thời gian 1 tuần lễ. Nếu mà anh không thuộc thì…chưa được …động phòng nhé!"
14

Một chàng trai Việt được chào đời trên đất Mỹ vào cuối năm 1975 tại một tiểu bang rất ít người Việt định cư. Cậu ta lớn lên trên đất Mỹ, theo học tại các trường Mỹ và khi đi làm cũng tại một cơ sở Mỹ. Cậu không được tiếp cận với cộng đồng người Việt, và lại nữa, cha mẹ cậu luôn tất bật với cuộc sống hàng ngày không nhiều thời giờ dạy tiếng mẹ đẻ cho cậu, thế nên cậu nói tiếng Việt bập bẹ như đứa trẻ lên ba và đọc viết chữ Việt chỉ khá hơn học sinh lớp Một.

Nhưng bù lại, trong cơ thể cậu đang mang rặt dòng máu Việt Nam nên cậu rất giống cha mẹ từ thể chất đến tư duy, Mặc dù chôn nhau cắt rốn nơi đất khách nhưng tâm hồn cậu luôn hướng về quê cha đất tổ, đúng với cái tên cúng cơm mà cha mẹ đặt cho cậu : Nguyễn Hoài Việt. Hoài Việt đã ba mươi hai tuổi mà vẫn còn sống độc thân. Tâm nguyện của người Mỹ gốc Việt nầy làsẽ lập gia đình với một cô gái Việt để sau nầy con cái khỏi bị lai căn mất gốc. Đó cũng là ý nguyện của cha mẹ cậu.

Đã vài lần cha mẹ Hoài Việt về thăm Việt Nam và lần nào cũng có dẫn cậu đến thăm gia đình người bạn cũ. Ông bà bạn nầy có một đứa con gái đang là giáo viên dạy văn cấp II. Cô được cha mẹ đặt cho cái tên để kỷ niệm ngày đất nước chấm dứt chiến tranh: Lê Thị Thanh Bình. Thanh Bình đã ba mươi tuổi mà vẫn còn “ở vậy” để lo phụng dưỡng cha me. Chỉ gặp nhau vài lần mà cô cậu đã “phải lòng nhau” và đã được cha mẹ hai bên chấp nhận, hẹn đến năm sau sẽ làm đám cưới.

Xem thêm: Ngôn ngữ Sài Gòn xưa – Những vay mượn từ tiếng Pháp

Từ Mỹ, Hoài Việt gửi thư về cho vị hôn thê, rằng anh sẽ về ở Việt Nam, công tác trong một tập đoàn công nghệ điện tử của Mỹ, rằng anh sẽ làm đám cưới với Thanh Bình v.v… Cô giáo dạy văn phải nhiều lần động não mới hiểu nổi cách hành văn nửa Việt nửa Mỹ của anh chồng tương lai… Chừng đọc tới câu : “… Sau khi là vợ chồng, mình sẽ sanh con đẻ cáy“, cô vừa bực vừa tức cười, rồi ỡm ờ tự hỏi : “Mình lấy anh ta để đẻ ra…cua à!…”. Nhưng rồi cô cũng thông cảm.

Ngày đám cưới, cha mẹ Thanh Bình có mời bà con bên ngoại dưới quê lên dự. Ông cậu của Thanh Bình là một lão nông chất phác, vừa tới cửa, ông cười giòn giã rồi nói lớn tiếng gây cho Hoài Việt chú ý : “Tao tưởng nhà của tụi bây ở trong sâu, ai dè từ đường cái vô có mấy bước”. Sau đám cưới, Hoài Việt rặn từng tiếng mới ra câu hỏi vợ: “Sao ông cậu không nói từ cái đường vô cái nhà mà nói từ đường cái?”. Thanh Bình không nín được cười rồi nhớ lại mấy ngày trước đám cưới, Hoài Việt dẫn cô đến tham quan nơi làm việc của anh ta, cô thấy chồng mình nói tiếng Anh với Mỹ như… lặt rau, thế mà một câu nói tiếng mẹ đẻ dễ ợt, anh ta phải… mắc nghẹn ba bốn lần! Cô nhớ lại trong thư anh viết có từ “cáy” bây giờ lại thắc mắc về từ “cái”. Chỉ hai từ nầy thôi, chồng cô cũng chưa hiểu được nghĩa của nó. Cô thông cảm cho chồng rồi ôn tồn giải thích:

– Này anh, tiếng Việt mình rất phong phú, riêng từ “cái” thôi, viết thì giống nhau, đọc lên giống nhau mà nghĩa thì khác hẳn. Người ta gọi đó là đồng tự, đồng âm mà dị nghĩa. Tuỳ theo vị trí chữ “cái” đó đứng ở đâu, đi với từ nào mà biết nó thuộc loại từ gì, nghĩa gì. Em sẽ viết cho anh bài học hai từ “cái” và “cáy”, anh phải học thuộc trong thời gian 1 tuần lễ. Nếu thời gian này mà anh không thuộc thì…. Rồi cô cười ngặt nghẽo, hai tay chụp vào vai chồng, hóm hỉnh nói: thì chưa được …động phòng nhé!

Hoài Việt chả biết “động phòng” là cái quái gì, thấy vợ cười vui và có cử chỉ âu yếm, anh cũng… khoái chí cười theo!

Cái “giáo án” mà cô giáo Thanh Bình soạn cho “học sinh” Hoài Việt học vỡ lòng là bài “Cái và Cáy”, kèm theo những câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao mang tính giáo dục về đạo lý và phong tục tập quán, văn hóa Việt Nam:

Cái

1. Cái là danh từ

CÁI là danh từ, nghĩa là MẸ, như “Bố CÁI Đại Vương” nhằm tôn xưng ông Phùng Hưng vừa là vị vua lớn của nước vừa là cha MẸ của dân. Tục ngữ có câu “Con dại CÁI mang” để nói con mà ngu dại thì MẸ phải chịu trách nhiệm. Câu ca dao “…Nàng về nuôi CÁI cùng con…” thì từ CÁI nầy cũng nghĩa là MẸ…

Nhưng khi nó đứng sau từ “con” thì nó lại là… con chứ không phải mẹ, như “sanh con đẻ CÁI” hoặc “Con CÁI trong nhà” là chỉ chung con trai, con gái. Còn CÁI là danh từ với nghĩa khác để chỉ phần đặc trong canh như thịt, cá, rau… thì tục ngữ có câu “Khôn ăn CÁI, dại húp nước”. Danh từ CÁI để chỉ người làm chủ canh bạc (làm CÁI) : “Nhà CÁI tay non, nhà con hốt bạc”. CÁI ghẻ là một loài ký sinh gây ra bệnh ghẻ. Trong Hán Việt, danh từ CÁI là cây dù, cây lọng.

2. Cái là loại từ

CÁI là loại từ (còn gọi mạo từ) đặt trước danh từ chung, như CÁI nhà, CÁI bàn, CÁI ghế, đặt trước danh từ trừu tượng như “CÁI nết đánh chết CÁI đẹp”. Hoặc để khen thì người ta nói “CÁI khó ló CÁI khôn”, để chê thì nói “CÁI khó bó Cái khôn”, để mỉa mai thì nói khác: “CÁI khó ló CÁI…ngu”. Một việc nhỏ không khéo giải quyết để trở thành việc lớn thì nói: “CÁI sảy nảy CÁI ung”. Ngoài ra, loại từ CÁI đôi khi đặt trước danh từ riêng để gọi bé gái: CÁI Lan, CÁI Huệ…

3. Cái là tính từ

CÁI là tính từ chỉ giới tính như Đực, CÁI. Kinh nghiệm trong việc lựa giống vật để nuôi, dân gian có câu: “Chọn đực coi dái, chọn CÁI coi vú”. Từ CÁI chỉ giới tính còn có cách nói khác cùng một vần: Gái (trai); Mái (trống); Nái (nọc). Cách nầy người ta gọi là: Đồng vận, đồng nghĩa mà biến âm.

– CÁI là tính từ có nghĩa là Lớn như: đường CÁI, sông CÁI: “Đường CÁI là đường CÁI quan, chận em đi chợ để tan chợ rồi” (ca dao). Và như: “Suối con lải nhải chẳng tải được gì, sông CÁI lầm lì người đi xuôi ngược”.

4. Cái là động từ

CÁI là động từ chỉ sự né tránh: “CÁI đi đường khác”, chỉ sự không hài lòng: “CÁI mặt lắc đầu”. Trong Hán Việt, động từ CÁI là chỉ sự bao trùm: “CÁI thế anh hùng”. Động từ CÁI nghĩa là đậy thì có câu: “CÁI quan luận đinh”, nghĩa là khi đậy nắp quan tài (người chết) mới luận công hay định tội người đó. CÁI nghĩa là xin, như “CÁI bang” là chỉ nhóm người ăn xin: “CÁI bang chơi gan hơn bá hộ”.

Ngoài ra, từ CÁI là gốc tiếng Khơme, ta lấy đặt tên nhiều địa danh ở vùng đồng bằng sông Cửu Long : CÁI Tàu, CÁI Sắn, CÁI Sơn; CÁI Răng, CÁI Cóc, CÁI Mơn, CÁI Bè v.v…

Trên đây là CÁI i ngắn, còn dưới đây là CÁY y dài:

Cáy

1. Cáy là động từ

Động từ THÁU CÁY là mánh khoé của giới cờ bạc nhằm đánh lừa đối phương (bài xấu mà giả như tốt để lừa).

2. Cáy là danh từ

CÁY danh từ là loài cua nhỏ sống ở bờ biển, người ta dùng nó để làm mắm: “Nhát như CÁY”. Thành ngữ “Bầu dục chấm mắm CÁY” để chỉ sự mất cân xứng giữa cái ngon (bầu dục) và cái rẽ tiền (mắm CÁY). Một gia đình nghèo, đời cha cực khổ đến đời con cũng vất vả, người ta dùng câu thành ngữ rất hay để mô tả: “Đời cua cua máy, đời CÁY CÁY đào”.

Còn một câu nữa rất tuyệt, gồm các từ ngữ dân gian, cách gieo vần độc đáo, ý nghĩa tương phản, đối nhau chan chát để chỉ hai loại người trong xã hội có hai cách sống và hai tâm trạng khác nhau: “Ăn mắm CÁY ngáy o o, ăn thịt bò lo ngay ngáy”.

Hoài Việt rất thích tiếng mẹ đẻ nên trong quá trình “học bài” có những gì chưa thông suốt anh liền hỏi vợ hoặc nhờ người thân giải thích. Sau 1 tuần, anh gặp vợ để “trả bài”. Thanh Bình khen anh thông minh và động viên chồng: “Anh nên nhẫn nại, chỉ cần thuộc 2 ngàn từ thông dụng thì có thể viết và nói tiếng Việt tương đối khá”. Qua một thoáng suy nghĩ, Hoài Việt kêu lên: “Trời ơi! Mới có 2 từ mà mất hết 1 tuần, nếu thuộc 2 ngàn từ thì phải mất 1 ngàn tuần, tính ra là 20 năm nữa à?!” Thanh Bình phá lên cười rồi âu yếm vuốt nhẹ vào lưng chồng khuyên giải: “Không dài như vậy đâu. Trong thời gian còn làm việc ở nước nhà, anh nên thường xuyên tiếp cận với mọi giai tầng người Việt trong xã hội, nhất là anh biết quay lại cội nguồn dân tộc thì thời gian ấy chỉ còn không tới một phần mười”. Rồi cô yêu cầu chồng thực tập bài học vừa rồi:

– Nầy anh, anh thử đặt một câu nói có từ “cái” trong đó!

Qua một thoáng suy nghĩ, Hoài Việt “trả bài”:

– Nầy em, em cho anh xin một CÁI…hôn!

Thanh Bình không trả lời nhưng biểu đồng tình bằng một CÁI…cười!

Xem thêm: Nói lái – Nét đặc sắc của văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam

Đỗ Văn Đồng

Văn hóa Việt Nam

Nói lái – Nét đặc sắc của văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam

Nói lái là một hình thức vô cùng độc đáo của văn hóa và ngôn ngữ Việt Nam. Ngay từ trong truyện dân gian, có rất nhiều câu chuyện liên quan đến nói lái.
9

Giai thoại nói lái

Chắc người Việt Nam ai cũng đều biết đến giai thoại giải thích “đại phong” là lọ tương: Đại là lớn, phong là gió. Đại phong là gió lớn, gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thì tượng lo, tượng lo là lọ tương.

Trạng Quỳnh dâng chúa món
Trạng Quỳnh dâng chúa món “Đại phong”

Một giai thoại khác, ở trong Nam. Vào buổi tàn thời của nho học, người ta bỏ bút lông, giắt bút chì, một số chạy theo thực dân Pháp. Trong số ấy có Nguyễn Văn Tâm, một lòng cúc cung với mẫu quốc, được người Pháp cất nhắc làm quan lớn, trên dưới trong ngoài, ai cũng biết nhờ bợ đỡ quan thầy mà làm quan to.

Tâm lấy làm tự đắc lắm. Phú quí sinh lễ nghĩa, quan lớn nhà ta cũng muốn tỏ ra mình phong lưu, muốn có những bức hoành, trướng để trang trí. Có người dâng lên quan bốn chữ đại tự “Đại Điểm Quần Thần”, viết chân phương, rất đẹp và giải thích “Quần thần” là người bề tôi, “Đại điểm” là điểm lớn, ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn, quan trọng trong triều.

Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách, ai đến thăm quan cũng đem khoe và giải thích như trên. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy xin đừng bắt tội, đuổi hết tả hữu rồi giải thích: Người viết liễn đã cố ý bỡn quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: “Đại điểm” là chấm to, “Quần thần” là bề tôi, nói theo kiểu trong Nam là bầy tôi. “Đại Điểm Quần Thần” là “Chấm To Bầy Tôi” nói lái lại là “Chó Tâm Bồi Tây”. Chẳng nghe chuyện kể nói quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay vì không muốn làm vỡ chuyện mà ỉm luôn.

Trong đời sống hàng ngày, chẳng hiếm khi chúng ta gặp những câu nói lái, đôi khi chỉ để bỡn cợt, châm biếm hay tránh những tiếng thô tục.

Ở Nam Bộ, có câu:

Con cá đối nằm trên cối đá.

Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.

Anh mà đối được, dẫu nghèo em cũng ưng.

Người Việt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hay sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau. Nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói, mà người nghe, vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra như trong giai thoại “Đại Điểm Quần Thần” kể trên.

Đi sâu hơn vào chi tiết: một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chữ Chanh, chẳng hạn, gồm phụ âm Ch và âm anh. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: Chanh, chánh, chành, chạnh… và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung, người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát.

Cũng có chữ không có phụ âm mà chỉ có âm, như trong ảnh ương hay ảo ảnh…

Nói lái theo kiểu người miền Bắc

Trở lại câu chuyện đại phong là lọ tương nói trên. Tượng lo nói lái lại là lọ tương, người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc): lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương.

Ta lấy vài thí dụ khác:

Đấu tranh nói lái lại là tránh đâu : tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh (không dấu) thành đâu.

Hải phòng nói lái lại là phỏng hài : hải đổi chỗ cho phòng lấy dấu huyền của phòng thành hài, phòng đổi chỗ cho hải lấy dấu hỏi của hải thành phỏng

Cứ theo cách ấy thì :

Sầm Sơn là sờn sâm

Thái Bình nói lái là bính thài

Hà Nội là nồi hạ…

Như vậy thì hai chữ có cùng dấu không nói lái được, như nhân dân, anh em, Sài Gòn, thánh thót, thực vật…. Cũng vậy, những tiếng láy như xanh xanh, hơ hớ, đo đỏ, lăng xăng… không thể nói lái được và nếu chúng ta cố tình theo qui luật trên thì cũng chỉ đổi vị trí cho nhau thôi.

Xem thêm: “Nhà quê” là gì? “Đồ nhà quê” có từ bao giờ?

Nói lái theo kiểu người miền Nam

Trong Nam người ta nói lái theo cách khác, ví dụ: Cá đối nói lái lại thành cối đá.

Ta nhận thấy theo cách nói lái trong nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí, phụ âm c ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á thành đá. Như vậy:

Sài gòn – sòn gài

Cần thơ nói lái là cờ thân

Cầy tơ là cờ tây

Cửu long là cỏng lưu

Thủ Đức là thức đủ

vv.. và vv..

Bút hiệu Thế Lữ (trong Tự Lực Văn Đoàn) chính là chữ nói lái của tên thật của ông: Nguyễn Thứ Lễ. Ngày trước đã có vế đối:

Ngày Tết, Thế Lữ đi hai thứ lễ: lê ta và lê tây

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, bằng cách giữ nguyên chữ giữa như trong trường hợp mèo đuôi cụt thành mút đuôi kèo (dấu nặng trong cụt biến thể thành dấu sắc trong mút), như vậy hà thủ ô nói lái thành hồ thủ a.

Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau (tuy ít thôi) để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn, thí dụ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành biến chinh, do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng: tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.

Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật… không nói lái được.

Xem thêm: Ngôn ngữ Sài Gòn xưa: Những vay mượn từ tiếng Pháp

Vài giai thoại – câu đối – câu đố sử dụng nói lái

Chúng ta đã thấy giai thoại về “Đại điểm quần thần”“Đại phong” ở trên. Chúng ta cũng thường nghe nói đến câu tiếng lóng “hạ cờ tây” là “hạ cầy tơ” của dân nhậu trong Nam và “mộc tồn” (là “cây còn”, nói lái thành “con cầy”) ở ngoài Bắc, hay những lối nói lái rất quen thuộc: con chín bến đò (con chó bến đình), Hương bên đèo (heo bên đường), theo con Hương (thương con heo)…

Trong Nam, mấy bạn nhậu thường hay nói chữ: “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu” cũng đừng vội tưởng họ sính nho, thật ra họ đùa “rượu gặp tri kỷ có trời mới biểu (bảo) thôi” (thiên = trời, bôi thiểu = biểu thôi)…

Về câu đối, xin trở lại câu ca dao trên :

“Con cá đối nằm trên cối đá.

Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.

Anh mà đối đặng dẫu nghèo em cũng ưng.”

Được đối là :

“Chim mỏ kiến(g) nằm trong miếng cỏ

Chim vàng lông đáp đậu vồng lang

Anh đà đối đặng hỏi nàng ưng chưa?”

Phải công nhận là câu đố và câu trả lời không chê vào đâu được, chắc gì chúng ta tìm được câu trả lời nào hay hơn cho cô gái tinh nghịch này.

Một câu khác, nghe chừng như xuông miệng nói chơi, nhưng lại đối rất chỉnh, trong cả hai vế đều dùng cách nói lái :

“Kia mấy cây mía

Có vài cái vò”.

Một câu đối khác, nhại theo Tú Xương ngày trước, nhưng rất đặc sắc và chua xót:

“Chiều ba mươi, thày giáo tháo giày ra chợ bán

Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.”

Thực tế là giày không còn là một phần trong y phục của thầy giáo, nhưng cháo đã là phần lương thực thường thấy trong bữa ăn hàng ngày.

Trong một đám cưới, chú rể người Hóc Môn, cô dâu ở Gò Công, có người rắn mắt đọc đùa câu đối:

“Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc – Gái Gò Công vừa gồng vừa co.”

Trong văn chương bình dân Việt Nam, câu đố chiếm một vị trí tuy khiêm nhường nhưng có sức sống tương đối mạnh mẽ so với hò đối đáp chẳng hạn. Ngày nay ta vẫn thường nghe những câu đố trong khi không còn thấy hò đối đáp trong sinh hoạt hàng ngày của người bình dân. Trong các dạng câu đố, cách dùng nói lái để đánh lừa người khác là một trong những cách tuy dễ nhưng cũng làm khó cho người bị đố không ít. Sau đây là vài câu đố dùng nói lái, lời giải có ngay trong câu đố:

– Tổ kiến, kiển tố, đố là chi ? – (đáp: tổ kiến)

– Khoan mũi, khoan lái, khoan khứ, khoan lai. Bò la, bò liệt đố ai biết gì ? – (đáp: khoai lang).

Những chữ mũi, lái, khứ, lai chỉ cốt để đánh lừa người bị đố.

– Con gì ở cạnh bờ sông, cái mui thì nát cái cong thì còn – (đáp: con còng – cong còn nói lái thành con còng)

– Cái gì bằng ngón chân cái mà chai cứng – (đáp: ngón chân cái)

– Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn – (đáp: con ngựa)

– Miệng bà ký lớn, bà ký banh. Tay ông cai dài, ông cai khoanh – (đáp: canh bí, canh khoai)…

Một vài người cũng câu nệ về nói lái, tránh đặt tên con những chữ có thể nói lái thành thô tục như Thái (dễ ghép với chữ có phụ âm d: thái dọt, thái dúi, thái dòng…). Lài (dễ ghép với chữ có âm ồn như lài dồn, lài cồn, lài mồn…). Côn, Tôn, Đôn (ghép với chữ có phụ âm l) v.v.. và v.v..

Xem thêm: Sự “bất quy tắc” trong tiếng Việt

Vài suy nghĩ thêm về nói lái

Qua những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng Việt. Chúng ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố, câu đối, để tránh những thô tục khi cố ý ghép chữ dể hạ thấp người khác.

Bỏ qua một bên những cái độc đáo, lắt léo của nói lái trong câu đố, câu đối; để chỉ chú ý đến phần đông các trường hợp chúng ta sử dụng nói lái như là một hình thức hạ thấp người khác. Trong phần trên chúng ta đã thấy nhà nho nào đó đã dùng sự uyên bác của mình để chửi một quan to mà quan chẳng những đã không biết mà còn hoan hỉ chấp nhận trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần.

Chúng ta đã dùng nói lái như một thứ vũ khí của người muốn dùng tiểu xảo để chống đối, để chứng tỏ mình hơn người, như một thứ vũ khí của kẻ yếu, kẻ bị trịđể bôi bác, nhạo báng, ám chỉ… để hạ phẩm cách của kẻ mạnh, kẻ thống trị.

Vấn đề nêu ra để chúng ta phải suy gẫm là tại sao chúng ta có những cách rất tiêu cực như vậy? Phải chăng vì hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đã đắm chìm quá lâu trong cảnh bị trị, dù của ngoại bang hay của chính người đồng chủng. Người dân phải tìm cách tránh né, che đậy để sinh tồn trước sức mạnh của kẻ thống trị. Vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ là chúng ta có nên duy trì mãi những tiêu cực tương tự trong những sinh hoạt thường ngày của chúng ta không?

Ai cũng thấy rõ một điều là sức sống của người Việt vô cùng to lớn, mãnh liệt, nhưng đồng thời cũng thể hiện những tiêu cực vô cùng tai hại. Chính vì chỉ muốn sống còn bằng bất cứ giá nào, người Việt đã mất đi những tích cực của tập thể cần phải có, điều này đã giúp cho kể thống trị tồn tại lâu trong vị trí và là một cách giải thích tại sao dân tộc chúng ta bị trị lâu đến như vậy.

Dù vậy, nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn nhữ Việt Nam, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc… (và chúng ta chỉ nên khai thác khía cạnh tích cực này), chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại mãi với người Việt như một nét đẹp văn hóa Việt Nam.

Xem thêm: Tên các quốc gia trên thế giới khi được phiên âm qua Hán Việt sẽ như thế nào?

Hòa Đa

Văn hóa Việt Nam

Tên các quốc gia trên thế giới khi được phiên âm qua Hán Việt sẽ như thế nào?

Chúng ta vẫn quen gọi tên một số nước từ âm Hán Việt, chẳng hạn như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga... Nhưng nếu như toàn bộ các quốc gia trên thế giới đều được phiên âm qua âm Hán Việt thì kết quả sẽ như thế nào?
7

Chẳng hạn, ta sẽ có một đoạn như sau:

Trong cuộc thi hoa hậu thế giới năm 2020 tổ chức tại Nặc Lỗ, người đẹp Bí Lỗ đã giành giải người có thân hình đẹp nhất, trong khi đó, người có chân dài nhất thuộc về người đẹp Liệt Chi Đôn Tư Đăng. Gương mặt khả ái nhất thuộc về người đẹp Khoa Đặc Địch Ngõa. Người giành giải thí sinh hát hay nhất là người đẹp Mặc Tây Ca. Á hậu 2 thuộc về người đẹp Mông Đặc Nội Ca La. Á hậu 1 là người đẹp Mông Cổ, còn hoa hậu là người đẹp Ngõa Nỗ Á Đồ.

Tiếng Việt thật tuyệt vời phải không các bạn? Dưới đây là danh sách đầy đủ tên các quốc gia bằng âm Hán Việt. Bạn nào nhận ra được 40 nước thì ở mức tốt, 70 nước thì ở mức siêu, 90 nước thì ở mức cực siêu, còn được hơn 120 nước thì chúc mừng bạn vì bạn đã ở cảnh giới thượng thừa rồi. Nào cùng khám phá nhé:

1. Á Căn Đình

2. A Lạp Bá Liên Hiệp Tù Trường Quốc

3. A Mạn

4. Á Mỹ Ni Á

5. A Nhĩ Ba Ni Á

6. A Nhĩ Cập Lợi Á

7. A Phú Hãn

8. A Tắc Bái Cương

9. Ách Lập Đặc LÝ Á

10. Ách Qua Đa Nhĩ

11. Ai Cập

12. Ái Nhĩ Lan

13. Ái Sa Ni Á

14. Ai Tắc Nga Bỉ Á

15. An Ca Lạp

16. An Đại Nhĩ

17. An Đề Qua Hòa Ba Bố Đạt

18. Ấn Độ

19. Ấn Độ Ni Tây Á

20. Anh Cát Lợi

21. Áo

22. Ba Ba Đa Tư

23. Ba Bố Á Tân Kỷ Nội Á

24. Ba Cơ Tư Thản

25. Ba Ha Mã

26. Ba Lặc Tư Thản

27. Ba Lâm

28. Ba Lan

29. Ba Lạp Khuê

30. Ba Lợi Duy Á

31. Bá Lợi Tư

32. Ba Nã Mã

33. Ba Tây

34. Ba Trát Na

35. Ba Tư

36. Ba Tư Ni Á Hòa Hắc Tắc Ca Duy Na

37. Bạch Lưu

38. Bạch Nga La Tư

39. Băng Đảo

40. Bảo Gia Lợi Á

41. Bất Đan

42. Bỉ

43. Bí Lỗ

44. Bố Cát Nạp Pháp Tác

45. Bồ Đào Nha

46. Bồ Long Đị

47. Bối Trữ

48. Ca Luân Bi Á

49. Ca Tháp Nhĩ

50. Ca Tư Đạt Lê Gia

51. Cách Lâm Nạp Đạt

52. Cách Lỗ Cát Á

53. Cát Ma

54. Cát Nhĩ Cát Tư Tư Thản

55. Mông Cổ

56. Cổ Ba

57. Cơ Lý Ba Tư

58. Cương Bỉ Á

59. Cương Quả Cộng hòa quốc

60. Cương Quả Dân chủ Cộng hòa quốc

61. Đa Ca

62. Đa Mễ Ni Khắc

63. Đa Minh Ni Gia

64. Dã Môn

65. Đài Loan

66. Đan Mạch

67. Dĩ Sắc Liệt

68. Đồ Ngõa Lư

69. Đông Đế Vấn

70. Đông Gia

71. Đột Ni Tư

72. Đức

73. Gia Bồng

74. Gia Nã Đại

75. Gia Nạp

76. Giản Phố Trại

77. Hà Lan

78. Hà Tác Khắc Tư Thản

79. Hải Địa

80. Hàn Quốc

81. Hoa Kỳ

82. Hồng Đô Lạp Tư

83. Hung Gia Lợi

84. Hương Cảng

85. Hy Lạp

86. Khắc La Địa Á

87. Khách Mạch Long

88. Khải Ni Á

89. Khố Khắc

90. Khoa Đặc Địch Ngõa

91. Khoa Tác Ốc

92. Khoa Uy Đặc

93. Khuê Á Na

94. Kỷ Nội Á

95. Ky Nội Á Bỉ Tác

96. La Mã Ni Á

97. Lai Tác Thác

98. Lão Qua

99. Lập Đào Uyên

100. Lạp Thoát Duy Á

101. Lê Ba Nộn

102. Liệt Chi Đôn Tư Đăng

103. Lô Sâm Bảo

104. Lô Vượng Đạt

105. Lợi Bỉ Á

106. Lợi Bỉ Lý Á

107. Mã Đạt Gia Tư Gia

108. Mã Ki Đốn

109. Ma Lạc Ca

110. Mã Lai Tây Á

111. Mã Lạp Duy

112. Mã Lý

113. Ma Nạp Ca

114. Ma Nhĩ Đa Ngõa

115. Mã Nhĩ Đại Phù

116. Mã Thiệu Nhĩ

117. Mạc Tang Bỉ Khắc

118. Mặc Tây Ca

119. Mạnh Gia Lạp

120. Mao Lý Cầu Tư

121. Mao Lý Tháp Ni Á

122. Mật Khắc La Ni Tây Á

123. Miến Điện

124. Mông Đặc Nội Ca La

125. Na Uy

126. Nặc Lỗ

127. Nại Cập Lợi Á

128. Nam Phi

129. Nam Tô Đan

130. Nam Tư

131. Nạp Mễ Bỉ Á

132. Nga La Tư

133. Ngõa Nỗ Á Đồ

134. Nguy Địa Mã Lạp

135. Nha Mãi Gia

136. Nhật Bản

137. Ni Bạc Nhĩ

138. Ni Gia Lạp Qua

139. Ni Nhật Nhĩ

140. Nữu Ai

141. Ô Can Đạt

142. Ô Khắc Lan

143. Ô Lạp Khuê

144. Ô Tư Biệt Khắc Tư Thản

145. Phạn Đế Cương

146. Phần Lan

147. Pháp

148. Phật Đắc Giác

149. Phi Luật Tân

150. Phi Tế

151. Sa Đặc A Lạp Bá

152. Sách Mã Lí

153. Sở La Môn

154. Tác Đắc

155. Tắc Lạp Lợi Ngang

156. Tắc Nhĩ Duy Á

157. Tắc Nội Gia Nhĩ

158. Tắc Thiệt Nhĩ

159. Tái Phổ Lặc Tư

160. Tân Ba Uy

161. Tán Bỉ Á

162. Tân Gia Ba

163. Tân Tây Lan

164. Táp Cát Khắc Tư Thản

165. Tát Ma Á

166. Tát Nhĩ Ngõa Đa

167. Tây Ban Nha

168. Thản Tang Ni Á

169. Thánh Đa Mĩ Hòa Phổ Lâm Tây Bỉ

170. Thánh Khắc Lí Tư Đa Phúc Cập Ni Duy Tư

171. Thánh Lô Tây Á

172. Thánh Mã Lực Nặc

173. Thánh Văn Sâm Đặc Hòa Cách Lâm Nạp Đinh Tư

174. Thiên Lí Đạt Cập Thác Ba Ca

175. Thổ Khố Man Tư Thản

176. Thổ Nhĩ Kỳ

177. Thụy Điển

178. Thụy Sĩ

179. Tiệp Khắc

180. Tô Cách Lan

181. Tô Đan

182. Tô Lợi Nam

183. Trí Lợi

184. Triều Tiên

185. Trung Hoa

186. Trung Phi

187. Tư Lạc Phạt Khắc

188. Tư Lạc Văn Ni Á

189. Tư Lí Lan Ca

190. Tự Lợi Á

191. Tư Uy Sĩ Lan

192. Úc

193. Ước Đán

194. Ủy Nội Thụy Lạp

195. Vấn Lai

196. Việt Nam

197. Xích Đạo Kỷ Nội Á

198. Xiêm La

199. Ý Đại Lợi

200. Y Lãng